Sài Gòn chợ lớn rong chơi

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Thanh
Ngày gửi: 10h:37' 29-03-2024
Dung lượng: 1.8 MB
Số lượt tải: 0
Người gửi: Nguyễn Thị Thanh
Ngày gửi: 10h:37' 29-03-2024
Dung lượng: 1.8 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
SÀI GÒN CHỢ LỚN RONG CHƠI
Tác giả: HIỀN HÒA.
Tranh vẽ: TRẦN TRUNG LĨNH.
Công ty phát hành: Phương Nam Book.
Nhà xuất bản: NXB Hội nhà văn.
Ngày phát hành: Tháng 3/2014.
Kích thước: 13 x 20.5 cm.
Số trang: 226.
***
Hội Sách hay cùng đọc
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Bạn mê đọc sách? Và bạn muốn được đóng góp cho cộng đồng như chúng tôi? Truy cập sachvui.com
ngay .
Mục lục
Thay lời tựa.
Nhạc sĩ Tuấn Khanh (1933) ‒ Sài Gòn sầu đông.
Nhạc sĩ Tuấn Khanh (1968) ‒ Sài Gòn phản biện.
Thi sĩ Bùi Giáng (1926‒1998) ‒ Sài Gòn du côn.
Thi sĩ Đồng Chuông Tử (1980) ‒ Sài Gòn xe ôm.
Nhà phê bình Đỗ Long Vân (1934‒1997) ‒ Sài Gòn vô kỵ.
Nhà nghiên cứu Hà Vũ Trọng (1967) ‒ Sài Gòn đạm thanh.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Tiến Văn (1939) ‒ Sài Gòn sẻ chia.
Nghiên cứu sinh Alec Schachner (1986) ‒ Sài Gòn dễ thở!
Chỉnh “Bass” (1946) ‒ Sài Gòn thoáng mở.
Sa “guitar” (1988) ‒ Sài Gòn quyến luyến.
Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ (1926‒ 2000) ‒ Sài Gòn phôi pha.
Kiến trúc sư Vũ Hà Tuệ (1981) ‒ Sài Gòn tái thiết.
Nhà sưu tập Nguyễn Xuân Oánh (1921‒2003) ‒ Sài Gòn lý tính.
Nhà sưu tập Lê Thái Sơn (1968‒ 2012) ‒ Sài Gòn xúc động.
Nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng (1952) ‒ Sài Gòn “cãi cọ”.
Nhà nghiên cứu Phạm Hoàng Quân (1966) ‒ Sài Gòn hệ thống.
Điêu khắc gia Mai Chửng (1940‒2001) ‒ Sài Gòn mộng du.
Điêu khắc gia Trần Việt Hưng (1968) ‒ Sài Gòn tỉnh mộng.
Nhiếp ảnh gia Trần Cao Lĩnh (1925‒ 1989) ‒ Sài Gòn lặng lẽ.
Nhiếp ảnh gia Trần Trung Lĩnh (1977) ‒ Sài Gòn xô bồ.
Tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu (1958) ‒ Sài Gòn phóng khoáng.
Nghiên cứu sinh Ngô Anh Thư (1984) ‒ Sài Gòn chuyển đổi.
Danh ca Tuyết Loan (1950) ‒ Sài Gòn vô tư.
Nghệ sĩ Lê Cát Trọng Lý (1987) ‒ Sài Gòn sắt son.
Nhà văn Trần Thị NgH (1948) ‒ Sài Gòn thẳm đau.
Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư (1977) ‒ Sài Gòn buồn ghiền.
Họa sĩ Bé Ký (1938) ‒ Sài Gòn “tốc họa”.
Họa sĩ Lim Khim Katy (1978) ‒ Sài Gòn “tĩnh họa”.
Nhà văn Trùng Dương (1944) ‒ Sài Gòn nghịch lưu.
Nhà văn Lynh Bacardi (1981) ‒ Sài Gòn hợp lưu.
Hoa khôi “xà bông” Ba Thiệu (1876 - 1894) ‒ Sài Gòn lưu danh.
Hoa khôi “vết sẹo” Ngô Thanh Vân (1979) ‒ Sài Gòn nức tiếng.
Điêu khắc gia Điềm Phùng Thị (1920‒2002) ‒ Sài Gòn lướt qua.
Nghệ sĩ điêu khắc Hoàng Himiko (1976) ‒ Sài Gòn ở lại.
THAY LỜI TỰA.
Tên gọi Sài Gòn có từ bao giờ và nghĩa ra sao, qua lịch sử mấy trăm năm,
đã thấy nhiều cuộc tranh luận gay cấn, đưa ra không ít lý lẽ công phu, mà éo
le thay, đến nay vẫn chưa thể xác quyết chung cuộc.
Vậy thì, người Sài Gòn là như thế nào, chẳng thể nào chỉ ra cặn kẽ cho
được, nhưng vẫn có người Sài Gòn đấy, không chỉ về phong thổ, nơi cư trú,
hay hành chính, mà còn cả văn minh, văn hóa, tập quán, bản sắc và tâm
tình...
Phân biệt hay định nghĩa thế nào là người Sài Gòn rất khó, nhưng nếu
sống tại thành phố này đủ lâu, nhận ra được người Sài Gòn khá dễ...
Có người Sài Gòn nói giọng Bình Thuận, Phú Yên, Quảng Nam, Huế, rồi
giọng Thanh ‒ Nghệ ‒ Tĩnh, rồi giọng Hà Nội, Hải Phòng, Hưng Yên, Bắc
Giang... Có người Sài Gòn nói tiếng Hoa, tiếng Khmer, Chăm..., mà hình
như, cả 54 dân tộc đều có đủ. Có người Sài Gòn chưa bao giờ có quốc tịch
Việt Nam và chưa thông thạo tiếng Việt...
Từ những lý do nhì nhằng và cũng khá rõ ràng như vậy, nhà báo Nguyễn
Hà đặt tôi viết loạt bài Người Sài Gòn cho tạp chí Sành Điệu từ đầu năm
2012. Yêu cầu không hề chơi chơi, vì mỗi số phải chọn hai nhân vật “cùng
nghề và có vài điểm chung”, người trước có thể đã chết, người sau thì còn
trẻ. Riêng tựa đề thì phải bắt đầu bằng hai chữ Sài Gòn. Và cũng với lý do,
tạp chí này nhìn chung nữ tính (theo hướng đông đảo giới nữ đọc), nên tôi
được đề nghị viết về giới nam ‒ nghĩa là người Sài Gòn “giống đực”. Nhưng
rồi sau một năm cấp tập, tôi dần cạn vốn, mà độc giả cũng ngán nam, tôi
được đề nghị chuyển qua nữ giới, đi được hơn nửa năm 2013, thì tới phiên
tạp chí ngán, dừng lại hẳn.
Khi tổ chức thành cuốn sách, tôi đắn đo rất nhiều về việc có nên bổ sung
thêm nhân vật hay không, nhất là vài người đồng tính, lưỡng tính, “đa hệ” ‒
vốn sinh sống và đóng góp cho Sài Gòn không ít điều tốt đẹp. Nhưng rồi
nghĩ tới nghĩ lui, tôi vẫn muốn giữ cấu trúc liền mạch với tư duy như lúc
viết, nên đành để dành nhiều nhân vật dự định cho tập 2, nếu tập 1 phát hành
tốt đẹp. Chính vì vậy, hoàn toàn không phải do thiếu tôn trọng giới, mà vì
ràng buộc kỹ thuật cấu thành ngay từ đầu, sách sẽ được đọc theo kiểu “tiên
nam hậu nữ”, ai thích nam đọc từ trước, ai thích nữ đọc từ sau. Đây là điều
mà bản thân tôi thấy rất áy náy, mong quý độc giả, đặc biệt giới nữ và các
giới khác hỷ xả lượng thứ.
Và cuối cùng, tại sao tôi chọn những người Sài Gòn như trong tập sách
này, nếu phân trần ra, cũng có tiêu chí này kia, nhưng rồi thôi.
La Hán Phòng, 1/11/2013.
NHẠC SĨ TUẤN KHANH (1933) ‒ SÀI GÒN SẦU
ĐÔNG.
Mỗi người Sài Gòn cho và nhận từ nơi này theo một cách, nhạc sĩ Tuấn
Khanh (sinh 1933) thì cho Sài Gòn mối sầu đông của đất Bắc, nó làm cho
thành phố vốn nhộn nhịp có thêm quãng lặng về sự hoài cảm.
Ngày nay, đặc biệt giới trẻ, ít ai biết Tuấn Khanh “già” là ai, nhưng một
vài ca khúc của ông thì vẫn thoang thoảng đâu đó. Nào Chiếc lá cuối cùng,
Hoa xoan bên thềm cũ, Đường xưa lối cũ, Chiều biên khu, Một chiều đông,
Nhạt nhòa, Dưới giàn hoa cũ... Lên mạng tìm thì chủ yếu thấy Tuấn Khanh
“trẻ” (sinh 1968), hiện đang sống tại Sài Gòn.
Sinh năm 1933 tại Nam Định, tên đầy đủ là Trần Ngọc Trọng (có nơi ghi
Trần Trọng Ngọc), tập chơi vĩ cầm từ 5‒6 tuổi, 10 tuổi biết xướng âm. Năm
1950, ông lên Hà Nội sống; năm 1954 được giải Nhất về ca hát của Đài Phát
thanh Hà Nội ‒ khi đi hát, ông lấy tên Trần Ngọc; năm 1955, một mình vào
Nam định cư. Về bút hiệu Tuấn Khanh, ông ghép chữ “Tuấn” là tên người
anh đã dạy nhạc cho mình và “Khanh” là tên người con trai của ông anh này.
Theo vài tư liệu thì năm 1949, Tuấn Khanh viết ca khúc đầu tay Hai sắc
hoa ti‒gôn (phổ thơ T.T.Kh.)? Nhưng chính Sài Gòn mới là mảnh đất làm
nên tên tuổi, nó như là quê hương thứ hai của Tuấn Khanh. Năm 1955, sau
một năm định cư ở đây, ông thành công với ca khúc Thăng Long thành hoài
cổ (phổ thơ Bà Huyện Thanh Quan) và Đò ngang (viết chung với Y Vân).
Năm 1956, ca khúc Hoa xoan bên thềm cũ (trong văn bản ông viết “soan”)
được viết để tặng một nữ sĩ, mà sau này là bạn đời ‒ đã đưa tên tuổi ông đến
với rộng rãi quần chúng.
Ông kể: “Khi tôi vào đến trong Nam, thì tôi có viết chung với nhạc sĩ Y
Vân nhạc phẩm Đò ngang và đó cũng là sáng tác đầu tiên của tôi. Trước khi
tôi vào Nam, tôi đã thi hát ở Hà Nội, và đoạt thủ khoa, bởi vậy khi vào Nam
tôi được nhận vào làm Đài Phát thanh Sài Gòn, cũng từ nơi làm việc này tôi
đã gặp nhạc sĩ Y Vân, và hình như giữa chúng tôi vì cùng tuổi, ngang tài nên
hợp nhau và từ đó mới có ca khúc đầu tiên ấy”.
Trước 1975, ông viết khoảng 120 ca khúc tại Sài Gòn, chủ yếu là tình ca ‒
được xếp vào thế hệ thứ 3 của nền tân nhạc. Một số ca khúc nổi tiếng ông
viết chung với nhạc sĩ Hoài Linh như Quán nửa khuya, Hai kỷ niệm một
chuyến đi...
Chính cái tinh thần hoài cổ một cách lạc quan đã đưa ca khúc Tuấn Khanh
đến với sự trong sáng hiếm thấy. Bởi thời kỳ này, do bối cảnh chiến tranh,
các tác giả thường có khuynh hướng thơ mộng thái quá hoặc sầu bi, nặng nề.
Tuấn Khanh tâm sự: “Bản nhạc nào tôi viết đúng với tâm sự của mình
thường dễ đi vào lòng người hơn những bài thương vay khóc mướn. Tuy
nhiên, cũng có những bài tôi viết từ xúc cảm một câu chuyện, một tâm sự
của người khác. Và những bài này, cũng được thính giả đón nhận”.
“Được mô tả là một nhạc sĩ lãng mạn với khả năng lao tác tinh thần bền bỉ
hiếm thấy, đem hương thơm đến các tâm hồn yêu nhạc nhiều thế hệ. Có thể
ít người biết rằng, trong đời thường, Tuấn Khanh là người nặng tinh thần gia
đình, ông ghét lạm dụng hai chữ 'nghệ sĩ' để sống buông tuồng, thiếu đạo
lý”, nhà thơ Du Tử Lê cho biết.
Ở miền Nam mà luôn nhớ miền Bắc, thì làm sao có thể nói Tuấn Khanh là
người Sài Gòn, nhưng ông cứ Sài Gòn một cách tự nhiên, chẳng chút mâu
thuẫn. Bởi trong nỗi nhớ ấy, ông đã sẻ chia cùng không khí Sài Gòn những
hình ảnh, những nỗi niềm chung. Nghe Hoa xoan bên thềm cũ, nhiều người
cứ ngỡ đó là thềm cũ ở bất kì bản quán nào, chứ không nghĩ nó là câu
chuyện riêng của Nam Định hay làng quê nào đó ở miền Bắc. Theo nhà phê
bình Hoài Nam (Úc châu), Tuấn Khanh có lẽ là nhạc sĩ đầu tiên đưa hoa
xoan (còn gọi sầu đông, sầu đau...) vào âm nhạc, một loại cây đặc trưng của
xứ Bắc đã nở hoa và tỏa hương rất Sài Gòn.
Đúng như lời của nhạc sĩ Phạm Duy: “Tuấn Khanh đã thành công khi nối
liền âm nhạc miền Nam với không khí thời tiền chiến” ở Hà Nội. Minh
chứng dễ nhận thấy nhất là ca khúc Dưới giàn hoa cũ, chính vì vậy, mà
không dễ đề quy kết Tuấn Khanh thuộc dòng nhạc “sến” hay “sang”, dù hai
chữ này, ngày nay, đã là một khái niệm lỗi thời.
Kể từ năm 1983, Tuấn Khanh định cư tại Mỹ, mở quán phở nổi tiếng là
Hoa Soan Bên Thềm Cũ, ông cho rằng nấu phở cũng phải đức độ như viết
nhạc. Sống tha hương, có người cho phở của ông giữ được chất Nam Định,
phần đông hơn thì nói rằng phở của ông đặc trưng cho cái gu phở Sài Gòn.
Tính tới tháng 6/2009, ông đã viết khoảng 70 ca khúc tại Mỹ; riêng phổ thơ,
ông đã có hơn 50 bài thiền ca.
“Mỗi ca khúc của ông khoác một âm điệu khác nhau. Nhưng có chung
một mẫu số. Mẫu số thiết tha. Mẫu số chân thật. Mẫu số đáp ứng rung động
trái tim nhiều người.
Sâu hơn nữa, có người còn thêm rằng, bên cạnh khả năng trời cho kia,
Tuấn Khanh còn là một thi sĩ. Nơi bất cứ ca khúc nào của ông, thỉnh thoảng,
người ta cũng bắt gặp những hình ảnh, những ngôn ngữ rất thi ca; rất trữ tình
và rất bất ngờ”, Hồ Huấn Cao phê bình.
Riêng ca sĩ Duy Trác thì ngưỡng mộ: “...Ông có một giọng ca trầm ấm vì
căn bản là một nhạc sĩ, khi hát ông có sẵn nhiều ưu điểm. Giọng ca Trần
Ngọc tình cảm nhưng rất mực thước, không bao giờ ông thêm bớt một chút
gì vào nguyên bản ca khúc mình trình bày như một số ca sĩ thường làm”.
Chất e ấp, mà tôi gọi là hương vị sầu đông, có lẽ là một đóng góp ý vị và
kín đáo của Tuấn Khanh với nền tân nhạc ở Sài Gòn. Chính vì lẽ đó mà mỗi
khi nghĩ về Sài Gòn, hay nghĩ về 80 năm tình ca Việt Nam (1930‒2010),
không thể nào quên hương vị sầu đông của Tuấn Khanh.
La Hán Phòng, 18/1/2012.
NHẠC SĨ TUẤN KHANH (1968) ‒ SÀI GÒN PHẢN
BIỆN.
Khác với Tuấn Khanh tiền bối sống khép kín, Tuấn Khanh đương thời là
một người xông xáo trong nhiều lĩnh vực, từ báo chí, quản lý dự án âm nhạc,
ban giám khảo, cho đến tinh thần phản biện. Có lẽ Tuấn Khanh là một trong
số ít những nhạc sĩ có tinh thần phản biện ở Sài Gòn trong một hai thập niên
gần đây.
Về Tuấn Khanh trẻ này, có lẽ tôi sẽ không nhắc lại, vì sợ thừa, chỉ cần vào
Google gõ tên thì sẽ thấy hơn 2,5 triệu kết quả trong vòng >2 giây. Ngoài âm
nhạc, anh còn theo học Luật, Báo chí và Anh văn...
Chỉ cần lướt qua đây đó các trang mạng hay mặt báo, chúng ta dễ dàng bắt
gặp những phát biểu thắng thắn của anh.
Về âm nhạc: “Chiếu theo sự phát triển của âm nhạc thương mại từ 5 năm
qua, biểu đồ của sự suy đồi đang là một đường thẳng đứng, chưa có điểm
dừng lại. [...] Nền âm nhạc Việt vẫn là một vũng lầy mà những người tham
gia ngụp lặn trong đó, cứ ngỡ là mình đang tắm gội trong một đại dương''.
Về truyền hình hiện nay, anh nói: “Tôi cho rằng xã hội Việt Nam đang bị
huyễn hoặc về sự nói dối của các chương trình truyền hình, hễ ai có mặt trên
đó mới gọi là đương thời. Nhẵn mặt trên truyền hình không chắc đã là người
của công chúng. Sự huyễn hoặc này, tôi cho rằng chỉ có tính giai đoạn của
một xã hội văn hóa chưa có tính mở hoàn toàn”.
Về các danh hiệu: “Đó là biểu hiện của một xã hội thiếu thông tin và
người dân không được chọn lựa theo điều mà mình muốn. Họ chỉ còn một
ngõ để đến với cái được gọi là 'hàng đầu' để tránh bị tổn thương với cảm
nghĩ ít nhất là mình không bị lừa. Truyền thông và mua bán đã bắt chặt tay
nhau trong thời buổi này. Và cũng bởi vì thiếu tài năng, nên người ta mới
bám rịt vào danh hiệu”.
Về thứ hạng: “Sự cách biệt về khả năng của người hạng nhất và người
hạng nhì ở Việt Nam hiện nay không khác bao nhiêu. Chúng ta chưa có cơ
hội để nhìn thấy nhiều tài năng xuất chúng mà không cần sự bàn cãi”.
Về thảm họa: “Tôi vẫn nhắc đi nhắc lại rằng: hoặc sự dốt nát, hoặc thờ ơ,
hoặc thỏa hiệp vì lợi ích cá nhân đã khiến các biên tập viên, những người
cầm trịch... của các chương văn nghệ chính thống trên báo chí, trên truyền
hình, phát thanh... trở thành kẻ đầu độc xã hội. Chỉ khi nào chúng ta lập lại
được sự đồng đẳng về tri thức và văn hóa, cùng với cái tâm phục vụ con
người và nghệ thuật, thì khi đó những cái gọi là thảm họa như hiện nay chỉ
còn là đôi ba trò hề không đáng quan tâm”.
Nói chung, rất nhiều.
Mà Tuấn Khanh không chỉ phản biện bằng lời nói, mà anh còn phản biện
bằng âm nhạc, album Bụi đường ca phát hành trực tuyến gây xôn xao dư
luận là một minh chứng thú vị. Trong album này, ca khúc của anh đã cận
nhân tình hơn, khi nó bắt nhịp vào với những đề tài cụ thể trong đời sống.
Tại sao Tuấn Khanh phản biện? Có lẽ đây là câu hỏi rất khó để trả lời rốt
ráo, nếu nhìn từ bên ngoài. Riêng chuyện phản biện được mất điều gì thì có
vẻ như rõ hơn, khi thiên hạ vốn thích lời đường mật, nói thật mất lòng nhau.
Phản biện mất việc.
Vì nói thật và vì sự thật của cộng đồng, Tuấn Khanh đã từ chối nhiều cơ
hội tìm danh kiếm lợi. Trong vai trò ban giám khảo các cuộc thi lớn, anh đã
thẳng thắn bày tỏ suy nghĩ, với mong muốn làm cho bối cảnh âm nhạc và
văn hóa lành mạnh hơn. Và khi tiếng nói ấy không được chia sẻ, anh chủ
động rút lui.
Tuấn Khanh thuộc thế hệ đa năng của âm nhạc giải trí Việt Nam sau 1975,
nơi mà các cơ hội dành cho nhạc sĩ đã thay đổi theo hướng đa dạng hơn,
thực dụng hơn. Năm 2001, anh được bình chọn Top 10 nhân vật trẻ có ảnh
hưởng đến cộng đồng chung của Đông Nam Á. Cũng giống Tuấn Khanh tiền
bối khi viết được 2‒3 thể loại ca khúc, anh còn đa dạng hơn, khi khá mát tay
trong nhiều lĩnh vực thuộc âm nhạc, giải trí. Thế nhưng Tuấn Khanh không
chọn thái độ “ngậm miệng ăn tiền”, anh chọn phản biện, với tinh thần phân
tích, xây dựng.
Một trong những lý do anh đưa ra, nghe rất giản dị, phản biện vì yêu Sài
Gòn. Nếu không vì sự dễ thương, bao dung, phóng khoáng... của thành phố
này thì anh đã mặc kệ. Vì yêu mà anh “ghen” với những thứ làm cho nơi này
băng hoại, nhất là về văn hóa, nghệ thuật.
Hiện nay, Tuấn Khanh đi đi về về giữa Mỹ và Sài Gòn, nơi nào công việc
cũng rất nhiều, nghĩa là anh có thể chọn nơi sống và cách sống. Thế nhưng,
bạn đừng ngạc nhiên khi đâu đó trên các vỉa hè Sài Gòn, vẫn thấy Tuấn
Khanh ngồi cà phê và ngắm phố. Thuộc và thân thiện với vô số quán vỉa hè,
đó là cách mà Tuấn Khanh nối lòng mình với nơi mà anh muốn gắn bó trọn
đời.
La Hán Phòng, 18/2/2012.
THI SĨ BÙI GIÁNG (1926‒1998) ‒ SÀI GÒN DU
CÔN.
Dù khắt khe thế nào thì Bùi Giáng vẫn là một thành tố thú vị của Sài Gòn.
Cái điên và cái tỉnh, cái phiêu hốt và giác ngộ của ông đủ làm cho thành phố
bề bộn này thêm phần hương sắc, thêm phần... “thập diện mai phục”.
Cũng như trong lịch sử thơ Việt Nam, việc thiếu vắng Bùi Giáng thì nền
thơ ấy vẫn vậy, vì ông chẳng giữ một móc xích gì quan trọng trong tiến trình
hiện đại hóa thi ca ‒ ông chỉ làm kẻ đứng bên lề, là ngoại hạng. Thế nhưng,
khi ông đã xuất hiện rồi thì không ai thay thế được nữa, ông làm cho thi ca
thêm lung linh, phiêu bồng, dễ gần và cực kỳ đáng yêu.
Với Sài Gòn đông đúc này cũng vậy, chẳng có ông thì nó vẫn chật cứng,
vẫn xô bồ và dửng dưng mà sống. Nhưng khi ông xuất hiện, múa gậy, rong
ruổi ở vài vỉa hè, tự nhiên nó làm cho phố thị có phần chầm chậm, đáng để ý
chút xíu. Bùi Giáng dân Quảng Nam, vào Sài Gòn từ rất sớm, ông gắn đời
mình với nhiều cung bậc, từ thiền viện, đại học, kinh sách, xuất bản... cho tới
giun dế, chai bao, say rượu, cỏ rác ở vỉa hè.
Chỉ cần hai câu thơ này thôi: “Sài Gòn, Chợ Lớn rong chơi/ Đi lên đi
xuống đã đời du côn”... thì đủ biết Bùi Giáng yêu và hiểu Sài Gòn cỡ nào.
Bởi không hiểu và không yêu Sài Gòn đến mức thân thuộc thì không thể
chỉ ra được hai chữ “rong chơi” và “du côn” ấy ‒ nó như là thuộc tính của
Sài Gòn.
Bởi từ xa xưa, Sài Gòn đã là đất của “dân đi đày và dân tứ chiếng”, đất
của dân nhập cư ‒ những người vốn không chịu nổi cái gò bó của khung
cảnh, lề luật và phong tục cũ nên mới đi tìm vùng đất mới, với hi vọng đó là
nơi khoáng đạt và dễ thở hơn.
Người Sài Gòn ít cố chấp và ít câu nệ vào những thứ được xem là “niêm
luật”, một phần vì phong thổ thoáng mát, gần sông, tầm nhìn của mắt khá xa;
một phần vì xuất thân ‒ họ đã vượt qua gian khổ để đến đây, cau có, quạu
quọ thêm để làm gì. Chính vậy, vì cái chất “du côn” theo nghĩa rộng và đẹp
của từ này, nên Sài Gòn cũng dễ sống nhất Việt Nam.
Vì hoàn cảnh lịch sử nên mãi sau này, khoảng 15 năm gần đây thì miền
Bắc mới biết đến Bùi Giáng nhiều hơn. Chứ từ Huế trở vào, trong hơn 50
năm qua, gần như trong giới văn nghệ, ai cũng biết đến cuộc đời kì dị, thơ
dồi dào và giai thoại phong phú... gắn với Bùi Giáng. Thậm chí với người
bình dân ở Sài Gòn, họ đồng nghĩa hình ảnh nhà thơ với hình ảnh và cái chất
điên điên của Bùi Giáng. Có thể nói Bùi Giáng là nhà thơ bình dân ‒ theo
nghĩa sống gần gũi, dân dã ‒ nhất của Việt Nam.
Trước tác của ông để lại khoảng 60 đầu sách và hàng vài chục tập di cảo,
tất cả đang lần lượt xuất bản và tái bản. Thậm chí một tuyển tập như Đười
ươi chân kinh vừa xuất bản tại Hà Nội đã trở thành hiện tượng “thơ bán
chạy” của cả nước, trong bối cảnh mà thơ chỉ in ra để biếu trọn.
Giai thoại kể rằng: Đầu thập niên 70 ông được đưa vào nhà thương Biên
Hòa chữa bệnh “đứng ngã ba nhìn ra ngã bảy”. Từ nhà thương điên trở ra,
bữa gặp nhau thấy ông rất tỉnh, bạn bè hỏi một câu thường tình: “Nhà
thương điên Biên Hòa trị cái tầu hỏa hay hỉ!”, ông trả lời tỉnh queo: “Chữa
trị quái gì đâu. Chẳng là ở ngoài mình thấy mình điên số một, khi vô nhà
thương điên mới hiểu ra mình là đồ bỏ, điên nhí, điên tiểu thủ công nghiệp:
trong nhà thương điên nhiều cha điên thượng thừa, điên vĩ đại hơn mình
nhiều. Do vậy mà mình tự động... thôi điên”.
Với Bùi Giáng, thơ hoàn toàn đi vào đời và đời hoàn toàn đi vào thơ, nên
Sài Gòn với ông là một bài thơ dài và rộng, chẳng hơn chẳng kém. Và chính
cuộc đời ngao du và “du côn” (ông tự nhận) cũng tô vẽ cho Sài Gòn thêm
phần lãng đãng ‒ một cái chất bề sâu, mà phải ở thật lâu, nhìn thật kĩ, lắng
nghe thật nhiều thì mới nhận ra được.
Ông nhiều lần làm thơ để tán tỉnh nghệ sĩ Kim Cương, ca sĩ Hà Thanh hay
Marilyn Monroe, Brigitte Bardot, Phùng Khánh... là chuyện thường tình, ông
còn làm thơ để ghi sổ nợ; làm để “chửi lộn” với xích lô, giang hồ, gái điếm,
tu sĩ, cảnh sát giao thông... Có lần ông bị chủ xe hủ tíu đánh chảy máu đầu,
một anh xích lô biết ông là “học giả ‒ thi sĩ” nên chở đi bệnh viện khâu vá,
sau đó mới quay lại “dạy cho” tay hủ tíu gõ một bài học để biết trên biết
dưới. Từ đó về sau, cứ thấy Bùi Giáng đi qua thì anh hủ tíu lại mời một tô,
có buổi khuya còn làm vài cục xí quách với hai xị rượu.
Vì vô chấp và vô cố mà Bùi Giáng dễ dàng được hòa vào dòng người của
Sài Gòn và dễ được người Sài Sòn (từ bình dân cho tới giới trí thức, nghệ sĩ,
giới tu hành, đạo hạnh...) mến mộ, xem như “thân hữu” của mình. Bùi Giáng
tinh thông vài ngoại ngữ, am hiểu vài lĩnh vực tư tưởng, thi ca, triết lý...
nhưng không hề cao ngạo, ông biết mình biết người và luôn đủ sự bao dung,
từ tốn ‒ những tính cách đặc trưng của người Sài Gòn.
Trong sách Đi vào cõi thơ (1969), Bùi Giáng tự bình về thơ của mình như
sau thì đủ thấy ông là ai:
“Những bài thơ 'chuồn chuồn châu chấu' của ông quả thật là có ý nghĩa.
Nó bay nhẹ vi vu, quả có đúng như là phận mỏng cánh chuồn. Vào những
buổi sáng mùa đông lạnh lạnh ở Trung Việt, vào những buổi chiều mùa thu
ở Bắc Hà, hình bóng những con chuồn chuồn bay lượn cuối ngõ, đầu xuân,
quả thật là tha thướt. Đôi phen mất cái tiết điệu riêng biệt ấy cũng còn tái
hiện trong đôi vần phồn hoa, mặc dù ở chốn phồn hoa không bao giờ có
chuồn chuồn bay vòng múa lượn. [...] Tuy nhiên vì Bùi Giáng là chỗ quen
biết với tôi nên không tiện bàn luận chi nhiều. Chê thì mất lòng nhau. Mà
khen thì mang tiếng 'mẹ hát, con vỗ tay”.
Suốt cuộc đời, khi nói về mình, ông thường nói với ý này: “điên rồ lừng
lẫy chết đi sống lại vẻ vang” (chữ của Bùi Giáng), ông du côn cùng Sài Gòn
mấy thập niên, làm biết bao bài thơ cho nó, nhưng chẳng muốn nhận về
mình cái gì. Ông viết:
“Ra đi ngủ bụi nằm đường
Đường truông xuôi ngược đường trường ngược xuôi
Ra đi tỉnh giấc bùi ngùi
Ra về bắt gặp con người thanh niên
Ra đời quờ quạng lên yên
Oe oe tiếng giục người tiên cho người
Lên trời động vỡ miệng cười
Nụ hàm tiếu, thánh nữ lười biếng ghi”.
Nhưng khi hỏi ông có phải người Sài Gòn không? Ông thường chỉ cười,
và câu trả lời của ông là thế này: “Hỏi rằng người ở quê đâu?/ Thưa rằng tôi
ở rất lâu quê nhà”. Bởi với ông: “Đi là đi ở đi đi/ Đi là đi biệt từ khi đi về”.
La Hán Phòng, 17/3/2012.
THI SĨ ĐỒNG CHUÔNG TỬ (1980) ‒ SÀI GÒN XE
ÔM.
Ở Việt Nam và đặc biệt tại Sài Gòn, những nhà thơ chạy xe ôm trong quá
khứ, chắc không ít, nhưng hiện tại thì gần như chỉ có Đồng Chuông Tử lai
rai hành nghề này. Nói lai rai là vì, chiếc xe máy Tàu của anh đang bị hư
nặng, chưa có tiền sửa, nên chỉ tranh thủ mượn xe bạn bè để chở khách
loanh quanh Thủ Đức.
Đồng Chuông Tử người Chăm, sinh năm 1980 tại Plei Pajai (làng Ma
Lâm, Bình Thuận), với tuổi thơ khó nhọc. Anh làm bài thơ đầu tiên năm 13
tuổi ‒ lúc bị chấn động mạnh vì nghe tin cha qua đời. 18 tuổi vào Sài Gòn
học Đại học Luật, làm đủ thứ nghề để mưu sinh như bán vé số, bồi bàn, dạy
học, xe ôm, “thợ đụng”... Trong các nghề này, xe ôm gắn bó với anh nhiều
và lâu dài nhất, đến nay vẫn còn khá “chuyên nghiệp”. Anh bỏ dở việc học
Luật ở năm thứ 4 vì thiếu tiền học phí và... mê thơ.
Với làn da ngăm đen, vóc dáng khòm khòm, khuôn mặt hiền hiền, Đồng
Chuông Tử kể chạy xe ôm ở Sài Gòn không dễ, nhiều khi còn bị đánh bởi
giới xe tưởng mình “cướp bến” của họ. Vì làm thơ mà tóc dài ra đến búi tó,
anh kể rằng, đôi lúc nhờ cái tóc này mà giới chạy xe bớt ăn hiếp mình,
nhưng nếu xõa tóc ngồi đón khách thì cũng chẳng ai đi, vì họ sợ.
Khi mới vào nghề, Đồng Chuông Tử chạy xe ở Ngã Năm Chuồng Chó
(Nguyễn Kiệm, Gò Vấp), lúc đó trường Luật thuê cơ sở gần đây để dạy học.
Nhưng cũng bữa cái bữa đực, vì hôm mượn được xe của bạn thì phải đi học,
hôm nghỉ học thì không mượn được xe. Sau anh chuyển về ngã tư Điện Biên
Phủ và Pasteur, chạy ở đây 2‒3 năm rồi chuyển ra Thủ Đức, Bình Dương, vì
phụ thuộc vào chỗ ở nhờ của bạn bè.
Có hai cách để “gần” với một nơi xa lạ, hoặc bạn phải ở nơi cao sang, đủ
thời gian để tìm hiểu đời sống một cách gián tiếp, hoặc bạn phải xông pha ra
đường, trực tiếp chiêm nghiệm nó. Đồng Chuông Tử thuộc tuýp thứ hai,
nhưng anh hơn những người bình thường ở tâm hồn nhạy cảm, khả năng
quan sát và phản biện của một thi sĩ.
Trong bài thơ có tên Cuộc sống là một đống tranh cãi, Đồng Chuông Tử
mô tả thân phận mình và so sánh nó với cái thành phố mà anh ngày ngày
giáp mặt cùng các con đường:
“...Tôi là gã cỏ hoang chuyên nghiệp, giú mình dưới những mũi giày của
bọn thợ săn tạp chủng
Đời tôi như chiếc áo rách được mẹ tôi may vá rất cẩn thận
Đừng nghĩ tôi rủng rình tiền khi thỉnh thoảng áo quần tôi láng bóng
Tôi như Sài Gòn khoác chiếc áo cao tầng sang trọng mà con đường thì
rách nát tả tơi
Buổi sáng rất sớm, tôi thức dậy làm gã xe ôm sắm sửa đời mình/thơ mình
bằng vài bạc lẻ
Rất vui vẻ, tôi mở cửa sổ trái tim mình đón khách lên ghế ngồi và nói lời
cảm tạ mọi người
Tôi không buồn số phận đã vùi tôi rất thấp
Tôi sống bám lấy/ hửi/ hít những làn sóng bụi đường và bất tử cũng từ
những hạt bụi bám
Bất luận người ta thêm bớt thứ gì tôi chẳng quan tâm”.
Cũng như nhiều thi sĩ khác, Đồng Chuông Tử có đủ cái “lao tâm khổ tứ”,
đủ cái “cảm giác bất hạnh” khi nhìn cuộc đời quá bon chen và phù phiếm
này. Nhưng không bi lụy, tuyệt vọng, anh xem cái nghề xe ôm của mình là
cái cớ để hiểu người hiểu đời, đặc biệt đó là cách nhanh nhất để hiểu Sài Gòn
rộng lớn, đông đúc ‒ nơi phồn hoa song song với tạm bợ, hiện đại với quê
mùa, thanh cao với giang hồ... Cũng trong bài thơ vừa kể trên, anh khẳng
khái:
“Mỗi cuộc đời là một con thuyền nan mang tên những sự kiện
Đôi khi cuộc đời là con chim đang cố bay qua vùng bão đen cuộc sống
Nó được khai sinh từ dư luận và chết đi cũng bởi dư luận
Vậy dư luận là gì?
Là con dao hai lưỡi mà con người miệt mài mài giũa nên
Nó như thuốc bổ sức khỏe, nếu lạm dụng sẽ chuyển thành thuốc độc
Tôi thích người ta gọi tôi là thi sĩ, và thoáng buồn khi bạn bè trịnh trọng
'hắn là nhà thơ'
Dầu thi sĩ và nhà thơ là một”.
Đồng Chuông Tử còn có biệt danh là Ma Tử (đứa con của làng Ma Lâm),
giới xe ôm và giang hồ, gái điếm thường gọi anh như vậy. Mỗi lần thấy số
máy lạ gọi đến, anh luôn nói “Ma Tử đây”, còn số máy quen của giới văn
nghệ thì anh nói “Đồng Chuông Tử nghe”.
Anh kể rằng có những người trông rách nát ở ngoài đường, nhưng khi chở
họ về nhà mới biết không phải như vậy, và ngược lại. Có một cô gái điếm
hạng sang mà anh hay chở từ quận 4 đi phục vụ khách ở các điểm nhiều tiền,
cô nói bồi được ba thứ tiếng, lại là một “thánh nữ” của hàng chục đứa trẻ
khuyết tật. Cô không muốn xe của cái đại gia đưa mình về nhà, mà thường
tẩy trang tại một quán cà phê quen, tắt di động và đi xe ôm, vì cô không
muốn những đứa trẻ ở nhà buồn. Chúng cứ nghĩ cô làm đầu bếp ở nhà hàng
ban đêm, vì cô nấu ăn rất ngon. Đồng Chuông Tử kể anh từng tặng cô một
tập thơ, dù không thích thơ cho lắm, nhưng có vẻ như cô đọc rất kĩ, vì thỉnh
thoảng trên chuyến xe ôm về nhà, cô có hỏi vài từ mà mình không hiểu hết
ý.
Ma Tử còn làm một cái nghề khá lạ, đó là giúp người ta tìm phòng trọ và
nhà trọ cấp tốc. Chạy xe ôm thấy nơi đâu treo bảng thì đều chịu khó ghi chép
và hỏi giá cần thận, gặp ai đang lúc cần kiếm nơi ở gấp thì anh giúp với cái
giá tùy hỷ, cho nhiêu nhận nhiêu. Anh kể có trường hợp thua chứng khoán,
tuần trước ở biệt thự Phú Mỹ Hưng cả triệu đô, tuần sau dọn qua Nhà Bè ở
trọ ven sông với phòng trọ giá 1triệu đồng/1 tháng. Bất đắc dĩ phải chứng
kiến nhiều sự kiện và biến cố của người Sài Gòn, đôi lúc anh thấy đời cơ cực
của bản thân cũng không quá bi đát. Anh kể có bữa trưa nằm đọc sách trên
yên xe và ngủ quên dưới bóng cây, thức dậy, thấy đôi dép vẫn còn nguyên,
đời thiệt là vui.
Đồng Chuông Tử mê thơ, mê chơi, mê ngẫm ngợi và mê sống thì ai quen
cũng đã biết. Anh cũng đã được vợ cưới (theo tục lệ của người Chăm), hiện
vợ sắp có đứa con thứ hai, dù con đầu của họ còn rất nhỏ. Vợ ở quê ngoài
Ninh Thuận, dệt thổ cẩm kiếm những đồng lẻ sống qua ngày, Đồng Chuông
Tử thì sống ở Sài Gòn, đi đi về về, anh quyết giữ đam mê của mình và làm
nhiều nghề để sống, để có tiền mua sữa cho con. Có thể nói Đồng Chuông
Tử là một kiểu của dân Sài Gòn, dám sống chết và xả thân cho sở thích của
mình, dù đó là thơ trong buổi vãn chợ chiều.
La Hán Phòng, 17/3/2012.
NHÀ PHÊ BÌNH ĐỖ LONG VÂN (1934‒1997) ‒ SÀI
GÒN VÔ KỴ.
Trong vô số phong cách nổi trội của Sài Gòn thì sự vô húy kỵ là điều dễ
nhận biết nhất. Chính vì “vô kỵ” mà ở đây có đầy đủ đất sống cho đủ hạng
người, nơi của “ngọa hổ tàng long”.
Không phải ngẫu nhiên mà truyện kiếm hiệp chạm đến văn hóa và lối
sống của người Sài Gòn trước 1975. Nhiều tờ báo thời này sống tốt là nhờ
dịch các tác giả kiếm hiệp như Kim Dung, Cổ Long... Trong vô số nhân vật
đầy hấp lực của Kim Dung thì Trương Vô Kỵ là ngoại hạng và được người
Sài Gòn ngưỡng mộ rất nhiều, ông không chỉ là nhân vật tiêu biểu trong tiểu
thuyết Ỷ Thiên Đồ Long ký (còn gọi Cô gái Đồ Long); không chỉ đại diện
cho triết lý sống: “Nhân tại giang hồ, thân bất do kỵ”...; mà còn đi vào tính
cách và sự hành xử đời thực của dân Sài thành.
Luận giải về Kim Dung có rất nhiều người, nhưng viết vừa tường minh
theo chủ nghĩa cấu trúc của Tây phương, vừa mang u mặc, thấu thị theo triết
lý Đông phương thì chỉ có mình Đỗ Long Vân. Tác phẩm phê bình Vô Kỵ
giữa chúng ta hay là hiện tượng Kim Dung là cuốn sách mỏng, ra đời năm
1967, đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng người đọc. Nó không chỉ cắt nghĩa
được sự say mê kiếm hiệp của người Sài Gòn, mà còn lột tả được tinh thần
vô kỵ của người dân nơi đây.
Ngay cả thi sĩ kỳ dị Bùi Giáng, người từng dịch Kim kiếm điêu linh của
Ngọa Long Sinh một cách lý thú và vô tiền kháng hậu, vẫn phải kính nể và
tôn sùng Đỗ Long Vân. Trong Thi ca tư tưởng (1969), ông viết:
“Cuốn sách của ông bàn về Kim Dung nằm trong vùng tư tưởng thâm
viễn như cuốn Nho giáo của Trần Trọng Kim. Chẳng những giúp người Việt
Nam hiểu tư tưởng lớn của thiên tài Trung Hoa, mà còn khiến người Trung
Hoa, người Đông phương, Tây phương nói chung ngày sau sực tỉnh. Tầm
quan trọng của cuốn sách kia quả thật rộng rãi không cùng.
Tôi có thể đưa ra vài nhận định khác ông ở đôi chi tiết. Nhưng không cần.
Điều cốt yếu, ông đã nói xong, và những dư vang vô số sẽ tỏa khắp mọi
chốn. Và sẽ còn khiến người ta thể hội cái mạch thẳm trong những tác phẩm
của những thiên tài xưa nay, bất luận là Đông phương hay Tây phương.
Sách tôi bị cháy hết, nhưng tôi sẽ tìm riêng cuốn Vô Kỵ giữa chúng ta hay
là hiện tượng Kim Dung để đọc lại nhiều lần...”.
Nhà văn Nguyễn Quốc Trụ thì cho biết:
“Cuốn tiểu luận được viết bằng bút pháp ấn tượng, với tầm nhìn sâu rộng
và những phân tích tỉ mỉ, nên nhanh chóng nhận được sự hoan nghênh của
người đọc. Nguyên Sa đánh giá cao tác phẩm này, còn Bùi Giáng thì tỏ ra
hết sức khâm phục, ông thường nhắc đến cuốn sách trong các bài luận kiếm
hiệp của mình như một đỉnh cao khó vươn tới.
Cuốn sách này không xét tới bộ truyện ưu tú Lộc Đỉnh Ký, vì khi ấy bộ
truyện này chưa ra đời. Tập sách chỉ xoay quanh Thiên long bát bộ, Anh
hùng xạ điêu, Thần điêu đại hiệp, Ỷ Thiên Đồ Long k...
Tác giả: HIỀN HÒA.
Tranh vẽ: TRẦN TRUNG LĨNH.
Công ty phát hành: Phương Nam Book.
Nhà xuất bản: NXB Hội nhà văn.
Ngày phát hành: Tháng 3/2014.
Kích thước: 13 x 20.5 cm.
Số trang: 226.
***
Hội Sách hay cùng đọc
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Bạn mê đọc sách? Và bạn muốn được đóng góp cho cộng đồng như chúng tôi? Truy cập sachvui.com
ngay .
Mục lục
Thay lời tựa.
Nhạc sĩ Tuấn Khanh (1933) ‒ Sài Gòn sầu đông.
Nhạc sĩ Tuấn Khanh (1968) ‒ Sài Gòn phản biện.
Thi sĩ Bùi Giáng (1926‒1998) ‒ Sài Gòn du côn.
Thi sĩ Đồng Chuông Tử (1980) ‒ Sài Gòn xe ôm.
Nhà phê bình Đỗ Long Vân (1934‒1997) ‒ Sài Gòn vô kỵ.
Nhà nghiên cứu Hà Vũ Trọng (1967) ‒ Sài Gòn đạm thanh.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Tiến Văn (1939) ‒ Sài Gòn sẻ chia.
Nghiên cứu sinh Alec Schachner (1986) ‒ Sài Gòn dễ thở!
Chỉnh “Bass” (1946) ‒ Sài Gòn thoáng mở.
Sa “guitar” (1988) ‒ Sài Gòn quyến luyến.
Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ (1926‒ 2000) ‒ Sài Gòn phôi pha.
Kiến trúc sư Vũ Hà Tuệ (1981) ‒ Sài Gòn tái thiết.
Nhà sưu tập Nguyễn Xuân Oánh (1921‒2003) ‒ Sài Gòn lý tính.
Nhà sưu tập Lê Thái Sơn (1968‒ 2012) ‒ Sài Gòn xúc động.
Nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng (1952) ‒ Sài Gòn “cãi cọ”.
Nhà nghiên cứu Phạm Hoàng Quân (1966) ‒ Sài Gòn hệ thống.
Điêu khắc gia Mai Chửng (1940‒2001) ‒ Sài Gòn mộng du.
Điêu khắc gia Trần Việt Hưng (1968) ‒ Sài Gòn tỉnh mộng.
Nhiếp ảnh gia Trần Cao Lĩnh (1925‒ 1989) ‒ Sài Gòn lặng lẽ.
Nhiếp ảnh gia Trần Trung Lĩnh (1977) ‒ Sài Gòn xô bồ.
Tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu (1958) ‒ Sài Gòn phóng khoáng.
Nghiên cứu sinh Ngô Anh Thư (1984) ‒ Sài Gòn chuyển đổi.
Danh ca Tuyết Loan (1950) ‒ Sài Gòn vô tư.
Nghệ sĩ Lê Cát Trọng Lý (1987) ‒ Sài Gòn sắt son.
Nhà văn Trần Thị NgH (1948) ‒ Sài Gòn thẳm đau.
Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư (1977) ‒ Sài Gòn buồn ghiền.
Họa sĩ Bé Ký (1938) ‒ Sài Gòn “tốc họa”.
Họa sĩ Lim Khim Katy (1978) ‒ Sài Gòn “tĩnh họa”.
Nhà văn Trùng Dương (1944) ‒ Sài Gòn nghịch lưu.
Nhà văn Lynh Bacardi (1981) ‒ Sài Gòn hợp lưu.
Hoa khôi “xà bông” Ba Thiệu (1876 - 1894) ‒ Sài Gòn lưu danh.
Hoa khôi “vết sẹo” Ngô Thanh Vân (1979) ‒ Sài Gòn nức tiếng.
Điêu khắc gia Điềm Phùng Thị (1920‒2002) ‒ Sài Gòn lướt qua.
Nghệ sĩ điêu khắc Hoàng Himiko (1976) ‒ Sài Gòn ở lại.
THAY LỜI TỰA.
Tên gọi Sài Gòn có từ bao giờ và nghĩa ra sao, qua lịch sử mấy trăm năm,
đã thấy nhiều cuộc tranh luận gay cấn, đưa ra không ít lý lẽ công phu, mà éo
le thay, đến nay vẫn chưa thể xác quyết chung cuộc.
Vậy thì, người Sài Gòn là như thế nào, chẳng thể nào chỉ ra cặn kẽ cho
được, nhưng vẫn có người Sài Gòn đấy, không chỉ về phong thổ, nơi cư trú,
hay hành chính, mà còn cả văn minh, văn hóa, tập quán, bản sắc và tâm
tình...
Phân biệt hay định nghĩa thế nào là người Sài Gòn rất khó, nhưng nếu
sống tại thành phố này đủ lâu, nhận ra được người Sài Gòn khá dễ...
Có người Sài Gòn nói giọng Bình Thuận, Phú Yên, Quảng Nam, Huế, rồi
giọng Thanh ‒ Nghệ ‒ Tĩnh, rồi giọng Hà Nội, Hải Phòng, Hưng Yên, Bắc
Giang... Có người Sài Gòn nói tiếng Hoa, tiếng Khmer, Chăm..., mà hình
như, cả 54 dân tộc đều có đủ. Có người Sài Gòn chưa bao giờ có quốc tịch
Việt Nam và chưa thông thạo tiếng Việt...
Từ những lý do nhì nhằng và cũng khá rõ ràng như vậy, nhà báo Nguyễn
Hà đặt tôi viết loạt bài Người Sài Gòn cho tạp chí Sành Điệu từ đầu năm
2012. Yêu cầu không hề chơi chơi, vì mỗi số phải chọn hai nhân vật “cùng
nghề và có vài điểm chung”, người trước có thể đã chết, người sau thì còn
trẻ. Riêng tựa đề thì phải bắt đầu bằng hai chữ Sài Gòn. Và cũng với lý do,
tạp chí này nhìn chung nữ tính (theo hướng đông đảo giới nữ đọc), nên tôi
được đề nghị viết về giới nam ‒ nghĩa là người Sài Gòn “giống đực”. Nhưng
rồi sau một năm cấp tập, tôi dần cạn vốn, mà độc giả cũng ngán nam, tôi
được đề nghị chuyển qua nữ giới, đi được hơn nửa năm 2013, thì tới phiên
tạp chí ngán, dừng lại hẳn.
Khi tổ chức thành cuốn sách, tôi đắn đo rất nhiều về việc có nên bổ sung
thêm nhân vật hay không, nhất là vài người đồng tính, lưỡng tính, “đa hệ” ‒
vốn sinh sống và đóng góp cho Sài Gòn không ít điều tốt đẹp. Nhưng rồi
nghĩ tới nghĩ lui, tôi vẫn muốn giữ cấu trúc liền mạch với tư duy như lúc
viết, nên đành để dành nhiều nhân vật dự định cho tập 2, nếu tập 1 phát hành
tốt đẹp. Chính vì vậy, hoàn toàn không phải do thiếu tôn trọng giới, mà vì
ràng buộc kỹ thuật cấu thành ngay từ đầu, sách sẽ được đọc theo kiểu “tiên
nam hậu nữ”, ai thích nam đọc từ trước, ai thích nữ đọc từ sau. Đây là điều
mà bản thân tôi thấy rất áy náy, mong quý độc giả, đặc biệt giới nữ và các
giới khác hỷ xả lượng thứ.
Và cuối cùng, tại sao tôi chọn những người Sài Gòn như trong tập sách
này, nếu phân trần ra, cũng có tiêu chí này kia, nhưng rồi thôi.
La Hán Phòng, 1/11/2013.
NHẠC SĨ TUẤN KHANH (1933) ‒ SÀI GÒN SẦU
ĐÔNG.
Mỗi người Sài Gòn cho và nhận từ nơi này theo một cách, nhạc sĩ Tuấn
Khanh (sinh 1933) thì cho Sài Gòn mối sầu đông của đất Bắc, nó làm cho
thành phố vốn nhộn nhịp có thêm quãng lặng về sự hoài cảm.
Ngày nay, đặc biệt giới trẻ, ít ai biết Tuấn Khanh “già” là ai, nhưng một
vài ca khúc của ông thì vẫn thoang thoảng đâu đó. Nào Chiếc lá cuối cùng,
Hoa xoan bên thềm cũ, Đường xưa lối cũ, Chiều biên khu, Một chiều đông,
Nhạt nhòa, Dưới giàn hoa cũ... Lên mạng tìm thì chủ yếu thấy Tuấn Khanh
“trẻ” (sinh 1968), hiện đang sống tại Sài Gòn.
Sinh năm 1933 tại Nam Định, tên đầy đủ là Trần Ngọc Trọng (có nơi ghi
Trần Trọng Ngọc), tập chơi vĩ cầm từ 5‒6 tuổi, 10 tuổi biết xướng âm. Năm
1950, ông lên Hà Nội sống; năm 1954 được giải Nhất về ca hát của Đài Phát
thanh Hà Nội ‒ khi đi hát, ông lấy tên Trần Ngọc; năm 1955, một mình vào
Nam định cư. Về bút hiệu Tuấn Khanh, ông ghép chữ “Tuấn” là tên người
anh đã dạy nhạc cho mình và “Khanh” là tên người con trai của ông anh này.
Theo vài tư liệu thì năm 1949, Tuấn Khanh viết ca khúc đầu tay Hai sắc
hoa ti‒gôn (phổ thơ T.T.Kh.)? Nhưng chính Sài Gòn mới là mảnh đất làm
nên tên tuổi, nó như là quê hương thứ hai của Tuấn Khanh. Năm 1955, sau
một năm định cư ở đây, ông thành công với ca khúc Thăng Long thành hoài
cổ (phổ thơ Bà Huyện Thanh Quan) và Đò ngang (viết chung với Y Vân).
Năm 1956, ca khúc Hoa xoan bên thềm cũ (trong văn bản ông viết “soan”)
được viết để tặng một nữ sĩ, mà sau này là bạn đời ‒ đã đưa tên tuổi ông đến
với rộng rãi quần chúng.
Ông kể: “Khi tôi vào đến trong Nam, thì tôi có viết chung với nhạc sĩ Y
Vân nhạc phẩm Đò ngang và đó cũng là sáng tác đầu tiên của tôi. Trước khi
tôi vào Nam, tôi đã thi hát ở Hà Nội, và đoạt thủ khoa, bởi vậy khi vào Nam
tôi được nhận vào làm Đài Phát thanh Sài Gòn, cũng từ nơi làm việc này tôi
đã gặp nhạc sĩ Y Vân, và hình như giữa chúng tôi vì cùng tuổi, ngang tài nên
hợp nhau và từ đó mới có ca khúc đầu tiên ấy”.
Trước 1975, ông viết khoảng 120 ca khúc tại Sài Gòn, chủ yếu là tình ca ‒
được xếp vào thế hệ thứ 3 của nền tân nhạc. Một số ca khúc nổi tiếng ông
viết chung với nhạc sĩ Hoài Linh như Quán nửa khuya, Hai kỷ niệm một
chuyến đi...
Chính cái tinh thần hoài cổ một cách lạc quan đã đưa ca khúc Tuấn Khanh
đến với sự trong sáng hiếm thấy. Bởi thời kỳ này, do bối cảnh chiến tranh,
các tác giả thường có khuynh hướng thơ mộng thái quá hoặc sầu bi, nặng nề.
Tuấn Khanh tâm sự: “Bản nhạc nào tôi viết đúng với tâm sự của mình
thường dễ đi vào lòng người hơn những bài thương vay khóc mướn. Tuy
nhiên, cũng có những bài tôi viết từ xúc cảm một câu chuyện, một tâm sự
của người khác. Và những bài này, cũng được thính giả đón nhận”.
“Được mô tả là một nhạc sĩ lãng mạn với khả năng lao tác tinh thần bền bỉ
hiếm thấy, đem hương thơm đến các tâm hồn yêu nhạc nhiều thế hệ. Có thể
ít người biết rằng, trong đời thường, Tuấn Khanh là người nặng tinh thần gia
đình, ông ghét lạm dụng hai chữ 'nghệ sĩ' để sống buông tuồng, thiếu đạo
lý”, nhà thơ Du Tử Lê cho biết.
Ở miền Nam mà luôn nhớ miền Bắc, thì làm sao có thể nói Tuấn Khanh là
người Sài Gòn, nhưng ông cứ Sài Gòn một cách tự nhiên, chẳng chút mâu
thuẫn. Bởi trong nỗi nhớ ấy, ông đã sẻ chia cùng không khí Sài Gòn những
hình ảnh, những nỗi niềm chung. Nghe Hoa xoan bên thềm cũ, nhiều người
cứ ngỡ đó là thềm cũ ở bất kì bản quán nào, chứ không nghĩ nó là câu
chuyện riêng của Nam Định hay làng quê nào đó ở miền Bắc. Theo nhà phê
bình Hoài Nam (Úc châu), Tuấn Khanh có lẽ là nhạc sĩ đầu tiên đưa hoa
xoan (còn gọi sầu đông, sầu đau...) vào âm nhạc, một loại cây đặc trưng của
xứ Bắc đã nở hoa và tỏa hương rất Sài Gòn.
Đúng như lời của nhạc sĩ Phạm Duy: “Tuấn Khanh đã thành công khi nối
liền âm nhạc miền Nam với không khí thời tiền chiến” ở Hà Nội. Minh
chứng dễ nhận thấy nhất là ca khúc Dưới giàn hoa cũ, chính vì vậy, mà
không dễ đề quy kết Tuấn Khanh thuộc dòng nhạc “sến” hay “sang”, dù hai
chữ này, ngày nay, đã là một khái niệm lỗi thời.
Kể từ năm 1983, Tuấn Khanh định cư tại Mỹ, mở quán phở nổi tiếng là
Hoa Soan Bên Thềm Cũ, ông cho rằng nấu phở cũng phải đức độ như viết
nhạc. Sống tha hương, có người cho phở của ông giữ được chất Nam Định,
phần đông hơn thì nói rằng phở của ông đặc trưng cho cái gu phở Sài Gòn.
Tính tới tháng 6/2009, ông đã viết khoảng 70 ca khúc tại Mỹ; riêng phổ thơ,
ông đã có hơn 50 bài thiền ca.
“Mỗi ca khúc của ông khoác một âm điệu khác nhau. Nhưng có chung
một mẫu số. Mẫu số thiết tha. Mẫu số chân thật. Mẫu số đáp ứng rung động
trái tim nhiều người.
Sâu hơn nữa, có người còn thêm rằng, bên cạnh khả năng trời cho kia,
Tuấn Khanh còn là một thi sĩ. Nơi bất cứ ca khúc nào của ông, thỉnh thoảng,
người ta cũng bắt gặp những hình ảnh, những ngôn ngữ rất thi ca; rất trữ tình
và rất bất ngờ”, Hồ Huấn Cao phê bình.
Riêng ca sĩ Duy Trác thì ngưỡng mộ: “...Ông có một giọng ca trầm ấm vì
căn bản là một nhạc sĩ, khi hát ông có sẵn nhiều ưu điểm. Giọng ca Trần
Ngọc tình cảm nhưng rất mực thước, không bao giờ ông thêm bớt một chút
gì vào nguyên bản ca khúc mình trình bày như một số ca sĩ thường làm”.
Chất e ấp, mà tôi gọi là hương vị sầu đông, có lẽ là một đóng góp ý vị và
kín đáo của Tuấn Khanh với nền tân nhạc ở Sài Gòn. Chính vì lẽ đó mà mỗi
khi nghĩ về Sài Gòn, hay nghĩ về 80 năm tình ca Việt Nam (1930‒2010),
không thể nào quên hương vị sầu đông của Tuấn Khanh.
La Hán Phòng, 18/1/2012.
NHẠC SĨ TUẤN KHANH (1968) ‒ SÀI GÒN PHẢN
BIỆN.
Khác với Tuấn Khanh tiền bối sống khép kín, Tuấn Khanh đương thời là
một người xông xáo trong nhiều lĩnh vực, từ báo chí, quản lý dự án âm nhạc,
ban giám khảo, cho đến tinh thần phản biện. Có lẽ Tuấn Khanh là một trong
số ít những nhạc sĩ có tinh thần phản biện ở Sài Gòn trong một hai thập niên
gần đây.
Về Tuấn Khanh trẻ này, có lẽ tôi sẽ không nhắc lại, vì sợ thừa, chỉ cần vào
Google gõ tên thì sẽ thấy hơn 2,5 triệu kết quả trong vòng >2 giây. Ngoài âm
nhạc, anh còn theo học Luật, Báo chí và Anh văn...
Chỉ cần lướt qua đây đó các trang mạng hay mặt báo, chúng ta dễ dàng bắt
gặp những phát biểu thắng thắn của anh.
Về âm nhạc: “Chiếu theo sự phát triển của âm nhạc thương mại từ 5 năm
qua, biểu đồ của sự suy đồi đang là một đường thẳng đứng, chưa có điểm
dừng lại. [...] Nền âm nhạc Việt vẫn là một vũng lầy mà những người tham
gia ngụp lặn trong đó, cứ ngỡ là mình đang tắm gội trong một đại dương''.
Về truyền hình hiện nay, anh nói: “Tôi cho rằng xã hội Việt Nam đang bị
huyễn hoặc về sự nói dối của các chương trình truyền hình, hễ ai có mặt trên
đó mới gọi là đương thời. Nhẵn mặt trên truyền hình không chắc đã là người
của công chúng. Sự huyễn hoặc này, tôi cho rằng chỉ có tính giai đoạn của
một xã hội văn hóa chưa có tính mở hoàn toàn”.
Về các danh hiệu: “Đó là biểu hiện của một xã hội thiếu thông tin và
người dân không được chọn lựa theo điều mà mình muốn. Họ chỉ còn một
ngõ để đến với cái được gọi là 'hàng đầu' để tránh bị tổn thương với cảm
nghĩ ít nhất là mình không bị lừa. Truyền thông và mua bán đã bắt chặt tay
nhau trong thời buổi này. Và cũng bởi vì thiếu tài năng, nên người ta mới
bám rịt vào danh hiệu”.
Về thứ hạng: “Sự cách biệt về khả năng của người hạng nhất và người
hạng nhì ở Việt Nam hiện nay không khác bao nhiêu. Chúng ta chưa có cơ
hội để nhìn thấy nhiều tài năng xuất chúng mà không cần sự bàn cãi”.
Về thảm họa: “Tôi vẫn nhắc đi nhắc lại rằng: hoặc sự dốt nát, hoặc thờ ơ,
hoặc thỏa hiệp vì lợi ích cá nhân đã khiến các biên tập viên, những người
cầm trịch... của các chương văn nghệ chính thống trên báo chí, trên truyền
hình, phát thanh... trở thành kẻ đầu độc xã hội. Chỉ khi nào chúng ta lập lại
được sự đồng đẳng về tri thức và văn hóa, cùng với cái tâm phục vụ con
người và nghệ thuật, thì khi đó những cái gọi là thảm họa như hiện nay chỉ
còn là đôi ba trò hề không đáng quan tâm”.
Nói chung, rất nhiều.
Mà Tuấn Khanh không chỉ phản biện bằng lời nói, mà anh còn phản biện
bằng âm nhạc, album Bụi đường ca phát hành trực tuyến gây xôn xao dư
luận là một minh chứng thú vị. Trong album này, ca khúc của anh đã cận
nhân tình hơn, khi nó bắt nhịp vào với những đề tài cụ thể trong đời sống.
Tại sao Tuấn Khanh phản biện? Có lẽ đây là câu hỏi rất khó để trả lời rốt
ráo, nếu nhìn từ bên ngoài. Riêng chuyện phản biện được mất điều gì thì có
vẻ như rõ hơn, khi thiên hạ vốn thích lời đường mật, nói thật mất lòng nhau.
Phản biện mất việc.
Vì nói thật và vì sự thật của cộng đồng, Tuấn Khanh đã từ chối nhiều cơ
hội tìm danh kiếm lợi. Trong vai trò ban giám khảo các cuộc thi lớn, anh đã
thẳng thắn bày tỏ suy nghĩ, với mong muốn làm cho bối cảnh âm nhạc và
văn hóa lành mạnh hơn. Và khi tiếng nói ấy không được chia sẻ, anh chủ
động rút lui.
Tuấn Khanh thuộc thế hệ đa năng của âm nhạc giải trí Việt Nam sau 1975,
nơi mà các cơ hội dành cho nhạc sĩ đã thay đổi theo hướng đa dạng hơn,
thực dụng hơn. Năm 2001, anh được bình chọn Top 10 nhân vật trẻ có ảnh
hưởng đến cộng đồng chung của Đông Nam Á. Cũng giống Tuấn Khanh tiền
bối khi viết được 2‒3 thể loại ca khúc, anh còn đa dạng hơn, khi khá mát tay
trong nhiều lĩnh vực thuộc âm nhạc, giải trí. Thế nhưng Tuấn Khanh không
chọn thái độ “ngậm miệng ăn tiền”, anh chọn phản biện, với tinh thần phân
tích, xây dựng.
Một trong những lý do anh đưa ra, nghe rất giản dị, phản biện vì yêu Sài
Gòn. Nếu không vì sự dễ thương, bao dung, phóng khoáng... của thành phố
này thì anh đã mặc kệ. Vì yêu mà anh “ghen” với những thứ làm cho nơi này
băng hoại, nhất là về văn hóa, nghệ thuật.
Hiện nay, Tuấn Khanh đi đi về về giữa Mỹ và Sài Gòn, nơi nào công việc
cũng rất nhiều, nghĩa là anh có thể chọn nơi sống và cách sống. Thế nhưng,
bạn đừng ngạc nhiên khi đâu đó trên các vỉa hè Sài Gòn, vẫn thấy Tuấn
Khanh ngồi cà phê và ngắm phố. Thuộc và thân thiện với vô số quán vỉa hè,
đó là cách mà Tuấn Khanh nối lòng mình với nơi mà anh muốn gắn bó trọn
đời.
La Hán Phòng, 18/2/2012.
THI SĨ BÙI GIÁNG (1926‒1998) ‒ SÀI GÒN DU
CÔN.
Dù khắt khe thế nào thì Bùi Giáng vẫn là một thành tố thú vị của Sài Gòn.
Cái điên và cái tỉnh, cái phiêu hốt và giác ngộ của ông đủ làm cho thành phố
bề bộn này thêm phần hương sắc, thêm phần... “thập diện mai phục”.
Cũng như trong lịch sử thơ Việt Nam, việc thiếu vắng Bùi Giáng thì nền
thơ ấy vẫn vậy, vì ông chẳng giữ một móc xích gì quan trọng trong tiến trình
hiện đại hóa thi ca ‒ ông chỉ làm kẻ đứng bên lề, là ngoại hạng. Thế nhưng,
khi ông đã xuất hiện rồi thì không ai thay thế được nữa, ông làm cho thi ca
thêm lung linh, phiêu bồng, dễ gần và cực kỳ đáng yêu.
Với Sài Gòn đông đúc này cũng vậy, chẳng có ông thì nó vẫn chật cứng,
vẫn xô bồ và dửng dưng mà sống. Nhưng khi ông xuất hiện, múa gậy, rong
ruổi ở vài vỉa hè, tự nhiên nó làm cho phố thị có phần chầm chậm, đáng để ý
chút xíu. Bùi Giáng dân Quảng Nam, vào Sài Gòn từ rất sớm, ông gắn đời
mình với nhiều cung bậc, từ thiền viện, đại học, kinh sách, xuất bản... cho tới
giun dế, chai bao, say rượu, cỏ rác ở vỉa hè.
Chỉ cần hai câu thơ này thôi: “Sài Gòn, Chợ Lớn rong chơi/ Đi lên đi
xuống đã đời du côn”... thì đủ biết Bùi Giáng yêu và hiểu Sài Gòn cỡ nào.
Bởi không hiểu và không yêu Sài Gòn đến mức thân thuộc thì không thể
chỉ ra được hai chữ “rong chơi” và “du côn” ấy ‒ nó như là thuộc tính của
Sài Gòn.
Bởi từ xa xưa, Sài Gòn đã là đất của “dân đi đày và dân tứ chiếng”, đất
của dân nhập cư ‒ những người vốn không chịu nổi cái gò bó của khung
cảnh, lề luật và phong tục cũ nên mới đi tìm vùng đất mới, với hi vọng đó là
nơi khoáng đạt và dễ thở hơn.
Người Sài Gòn ít cố chấp và ít câu nệ vào những thứ được xem là “niêm
luật”, một phần vì phong thổ thoáng mát, gần sông, tầm nhìn của mắt khá xa;
một phần vì xuất thân ‒ họ đã vượt qua gian khổ để đến đây, cau có, quạu
quọ thêm để làm gì. Chính vậy, vì cái chất “du côn” theo nghĩa rộng và đẹp
của từ này, nên Sài Gòn cũng dễ sống nhất Việt Nam.
Vì hoàn cảnh lịch sử nên mãi sau này, khoảng 15 năm gần đây thì miền
Bắc mới biết đến Bùi Giáng nhiều hơn. Chứ từ Huế trở vào, trong hơn 50
năm qua, gần như trong giới văn nghệ, ai cũng biết đến cuộc đời kì dị, thơ
dồi dào và giai thoại phong phú... gắn với Bùi Giáng. Thậm chí với người
bình dân ở Sài Gòn, họ đồng nghĩa hình ảnh nhà thơ với hình ảnh và cái chất
điên điên của Bùi Giáng. Có thể nói Bùi Giáng là nhà thơ bình dân ‒ theo
nghĩa sống gần gũi, dân dã ‒ nhất của Việt Nam.
Trước tác của ông để lại khoảng 60 đầu sách và hàng vài chục tập di cảo,
tất cả đang lần lượt xuất bản và tái bản. Thậm chí một tuyển tập như Đười
ươi chân kinh vừa xuất bản tại Hà Nội đã trở thành hiện tượng “thơ bán
chạy” của cả nước, trong bối cảnh mà thơ chỉ in ra để biếu trọn.
Giai thoại kể rằng: Đầu thập niên 70 ông được đưa vào nhà thương Biên
Hòa chữa bệnh “đứng ngã ba nhìn ra ngã bảy”. Từ nhà thương điên trở ra,
bữa gặp nhau thấy ông rất tỉnh, bạn bè hỏi một câu thường tình: “Nhà
thương điên Biên Hòa trị cái tầu hỏa hay hỉ!”, ông trả lời tỉnh queo: “Chữa
trị quái gì đâu. Chẳng là ở ngoài mình thấy mình điên số một, khi vô nhà
thương điên mới hiểu ra mình là đồ bỏ, điên nhí, điên tiểu thủ công nghiệp:
trong nhà thương điên nhiều cha điên thượng thừa, điên vĩ đại hơn mình
nhiều. Do vậy mà mình tự động... thôi điên”.
Với Bùi Giáng, thơ hoàn toàn đi vào đời và đời hoàn toàn đi vào thơ, nên
Sài Gòn với ông là một bài thơ dài và rộng, chẳng hơn chẳng kém. Và chính
cuộc đời ngao du và “du côn” (ông tự nhận) cũng tô vẽ cho Sài Gòn thêm
phần lãng đãng ‒ một cái chất bề sâu, mà phải ở thật lâu, nhìn thật kĩ, lắng
nghe thật nhiều thì mới nhận ra được.
Ông nhiều lần làm thơ để tán tỉnh nghệ sĩ Kim Cương, ca sĩ Hà Thanh hay
Marilyn Monroe, Brigitte Bardot, Phùng Khánh... là chuyện thường tình, ông
còn làm thơ để ghi sổ nợ; làm để “chửi lộn” với xích lô, giang hồ, gái điếm,
tu sĩ, cảnh sát giao thông... Có lần ông bị chủ xe hủ tíu đánh chảy máu đầu,
một anh xích lô biết ông là “học giả ‒ thi sĩ” nên chở đi bệnh viện khâu vá,
sau đó mới quay lại “dạy cho” tay hủ tíu gõ một bài học để biết trên biết
dưới. Từ đó về sau, cứ thấy Bùi Giáng đi qua thì anh hủ tíu lại mời một tô,
có buổi khuya còn làm vài cục xí quách với hai xị rượu.
Vì vô chấp và vô cố mà Bùi Giáng dễ dàng được hòa vào dòng người của
Sài Gòn và dễ được người Sài Sòn (từ bình dân cho tới giới trí thức, nghệ sĩ,
giới tu hành, đạo hạnh...) mến mộ, xem như “thân hữu” của mình. Bùi Giáng
tinh thông vài ngoại ngữ, am hiểu vài lĩnh vực tư tưởng, thi ca, triết lý...
nhưng không hề cao ngạo, ông biết mình biết người và luôn đủ sự bao dung,
từ tốn ‒ những tính cách đặc trưng của người Sài Gòn.
Trong sách Đi vào cõi thơ (1969), Bùi Giáng tự bình về thơ của mình như
sau thì đủ thấy ông là ai:
“Những bài thơ 'chuồn chuồn châu chấu' của ông quả thật là có ý nghĩa.
Nó bay nhẹ vi vu, quả có đúng như là phận mỏng cánh chuồn. Vào những
buổi sáng mùa đông lạnh lạnh ở Trung Việt, vào những buổi chiều mùa thu
ở Bắc Hà, hình bóng những con chuồn chuồn bay lượn cuối ngõ, đầu xuân,
quả thật là tha thướt. Đôi phen mất cái tiết điệu riêng biệt ấy cũng còn tái
hiện trong đôi vần phồn hoa, mặc dù ở chốn phồn hoa không bao giờ có
chuồn chuồn bay vòng múa lượn. [...] Tuy nhiên vì Bùi Giáng là chỗ quen
biết với tôi nên không tiện bàn luận chi nhiều. Chê thì mất lòng nhau. Mà
khen thì mang tiếng 'mẹ hát, con vỗ tay”.
Suốt cuộc đời, khi nói về mình, ông thường nói với ý này: “điên rồ lừng
lẫy chết đi sống lại vẻ vang” (chữ của Bùi Giáng), ông du côn cùng Sài Gòn
mấy thập niên, làm biết bao bài thơ cho nó, nhưng chẳng muốn nhận về
mình cái gì. Ông viết:
“Ra đi ngủ bụi nằm đường
Đường truông xuôi ngược đường trường ngược xuôi
Ra đi tỉnh giấc bùi ngùi
Ra về bắt gặp con người thanh niên
Ra đời quờ quạng lên yên
Oe oe tiếng giục người tiên cho người
Lên trời động vỡ miệng cười
Nụ hàm tiếu, thánh nữ lười biếng ghi”.
Nhưng khi hỏi ông có phải người Sài Gòn không? Ông thường chỉ cười,
và câu trả lời của ông là thế này: “Hỏi rằng người ở quê đâu?/ Thưa rằng tôi
ở rất lâu quê nhà”. Bởi với ông: “Đi là đi ở đi đi/ Đi là đi biệt từ khi đi về”.
La Hán Phòng, 17/3/2012.
THI SĨ ĐỒNG CHUÔNG TỬ (1980) ‒ SÀI GÒN XE
ÔM.
Ở Việt Nam và đặc biệt tại Sài Gòn, những nhà thơ chạy xe ôm trong quá
khứ, chắc không ít, nhưng hiện tại thì gần như chỉ có Đồng Chuông Tử lai
rai hành nghề này. Nói lai rai là vì, chiếc xe máy Tàu của anh đang bị hư
nặng, chưa có tiền sửa, nên chỉ tranh thủ mượn xe bạn bè để chở khách
loanh quanh Thủ Đức.
Đồng Chuông Tử người Chăm, sinh năm 1980 tại Plei Pajai (làng Ma
Lâm, Bình Thuận), với tuổi thơ khó nhọc. Anh làm bài thơ đầu tiên năm 13
tuổi ‒ lúc bị chấn động mạnh vì nghe tin cha qua đời. 18 tuổi vào Sài Gòn
học Đại học Luật, làm đủ thứ nghề để mưu sinh như bán vé số, bồi bàn, dạy
học, xe ôm, “thợ đụng”... Trong các nghề này, xe ôm gắn bó với anh nhiều
và lâu dài nhất, đến nay vẫn còn khá “chuyên nghiệp”. Anh bỏ dở việc học
Luật ở năm thứ 4 vì thiếu tiền học phí và... mê thơ.
Với làn da ngăm đen, vóc dáng khòm khòm, khuôn mặt hiền hiền, Đồng
Chuông Tử kể chạy xe ôm ở Sài Gòn không dễ, nhiều khi còn bị đánh bởi
giới xe tưởng mình “cướp bến” của họ. Vì làm thơ mà tóc dài ra đến búi tó,
anh kể rằng, đôi lúc nhờ cái tóc này mà giới chạy xe bớt ăn hiếp mình,
nhưng nếu xõa tóc ngồi đón khách thì cũng chẳng ai đi, vì họ sợ.
Khi mới vào nghề, Đồng Chuông Tử chạy xe ở Ngã Năm Chuồng Chó
(Nguyễn Kiệm, Gò Vấp), lúc đó trường Luật thuê cơ sở gần đây để dạy học.
Nhưng cũng bữa cái bữa đực, vì hôm mượn được xe của bạn thì phải đi học,
hôm nghỉ học thì không mượn được xe. Sau anh chuyển về ngã tư Điện Biên
Phủ và Pasteur, chạy ở đây 2‒3 năm rồi chuyển ra Thủ Đức, Bình Dương, vì
phụ thuộc vào chỗ ở nhờ của bạn bè.
Có hai cách để “gần” với một nơi xa lạ, hoặc bạn phải ở nơi cao sang, đủ
thời gian để tìm hiểu đời sống một cách gián tiếp, hoặc bạn phải xông pha ra
đường, trực tiếp chiêm nghiệm nó. Đồng Chuông Tử thuộc tuýp thứ hai,
nhưng anh hơn những người bình thường ở tâm hồn nhạy cảm, khả năng
quan sát và phản biện của một thi sĩ.
Trong bài thơ có tên Cuộc sống là một đống tranh cãi, Đồng Chuông Tử
mô tả thân phận mình và so sánh nó với cái thành phố mà anh ngày ngày
giáp mặt cùng các con đường:
“...Tôi là gã cỏ hoang chuyên nghiệp, giú mình dưới những mũi giày của
bọn thợ săn tạp chủng
Đời tôi như chiếc áo rách được mẹ tôi may vá rất cẩn thận
Đừng nghĩ tôi rủng rình tiền khi thỉnh thoảng áo quần tôi láng bóng
Tôi như Sài Gòn khoác chiếc áo cao tầng sang trọng mà con đường thì
rách nát tả tơi
Buổi sáng rất sớm, tôi thức dậy làm gã xe ôm sắm sửa đời mình/thơ mình
bằng vài bạc lẻ
Rất vui vẻ, tôi mở cửa sổ trái tim mình đón khách lên ghế ngồi và nói lời
cảm tạ mọi người
Tôi không buồn số phận đã vùi tôi rất thấp
Tôi sống bám lấy/ hửi/ hít những làn sóng bụi đường và bất tử cũng từ
những hạt bụi bám
Bất luận người ta thêm bớt thứ gì tôi chẳng quan tâm”.
Cũng như nhiều thi sĩ khác, Đồng Chuông Tử có đủ cái “lao tâm khổ tứ”,
đủ cái “cảm giác bất hạnh” khi nhìn cuộc đời quá bon chen và phù phiếm
này. Nhưng không bi lụy, tuyệt vọng, anh xem cái nghề xe ôm của mình là
cái cớ để hiểu người hiểu đời, đặc biệt đó là cách nhanh nhất để hiểu Sài Gòn
rộng lớn, đông đúc ‒ nơi phồn hoa song song với tạm bợ, hiện đại với quê
mùa, thanh cao với giang hồ... Cũng trong bài thơ vừa kể trên, anh khẳng
khái:
“Mỗi cuộc đời là một con thuyền nan mang tên những sự kiện
Đôi khi cuộc đời là con chim đang cố bay qua vùng bão đen cuộc sống
Nó được khai sinh từ dư luận và chết đi cũng bởi dư luận
Vậy dư luận là gì?
Là con dao hai lưỡi mà con người miệt mài mài giũa nên
Nó như thuốc bổ sức khỏe, nếu lạm dụng sẽ chuyển thành thuốc độc
Tôi thích người ta gọi tôi là thi sĩ, và thoáng buồn khi bạn bè trịnh trọng
'hắn là nhà thơ'
Dầu thi sĩ và nhà thơ là một”.
Đồng Chuông Tử còn có biệt danh là Ma Tử (đứa con của làng Ma Lâm),
giới xe ôm và giang hồ, gái điếm thường gọi anh như vậy. Mỗi lần thấy số
máy lạ gọi đến, anh luôn nói “Ma Tử đây”, còn số máy quen của giới văn
nghệ thì anh nói “Đồng Chuông Tử nghe”.
Anh kể rằng có những người trông rách nát ở ngoài đường, nhưng khi chở
họ về nhà mới biết không phải như vậy, và ngược lại. Có một cô gái điếm
hạng sang mà anh hay chở từ quận 4 đi phục vụ khách ở các điểm nhiều tiền,
cô nói bồi được ba thứ tiếng, lại là một “thánh nữ” của hàng chục đứa trẻ
khuyết tật. Cô không muốn xe của cái đại gia đưa mình về nhà, mà thường
tẩy trang tại một quán cà phê quen, tắt di động và đi xe ôm, vì cô không
muốn những đứa trẻ ở nhà buồn. Chúng cứ nghĩ cô làm đầu bếp ở nhà hàng
ban đêm, vì cô nấu ăn rất ngon. Đồng Chuông Tử kể anh từng tặng cô một
tập thơ, dù không thích thơ cho lắm, nhưng có vẻ như cô đọc rất kĩ, vì thỉnh
thoảng trên chuyến xe ôm về nhà, cô có hỏi vài từ mà mình không hiểu hết
ý.
Ma Tử còn làm một cái nghề khá lạ, đó là giúp người ta tìm phòng trọ và
nhà trọ cấp tốc. Chạy xe ôm thấy nơi đâu treo bảng thì đều chịu khó ghi chép
và hỏi giá cần thận, gặp ai đang lúc cần kiếm nơi ở gấp thì anh giúp với cái
giá tùy hỷ, cho nhiêu nhận nhiêu. Anh kể có trường hợp thua chứng khoán,
tuần trước ở biệt thự Phú Mỹ Hưng cả triệu đô, tuần sau dọn qua Nhà Bè ở
trọ ven sông với phòng trọ giá 1triệu đồng/1 tháng. Bất đắc dĩ phải chứng
kiến nhiều sự kiện và biến cố của người Sài Gòn, đôi lúc anh thấy đời cơ cực
của bản thân cũng không quá bi đát. Anh kể có bữa trưa nằm đọc sách trên
yên xe và ngủ quên dưới bóng cây, thức dậy, thấy đôi dép vẫn còn nguyên,
đời thiệt là vui.
Đồng Chuông Tử mê thơ, mê chơi, mê ngẫm ngợi và mê sống thì ai quen
cũng đã biết. Anh cũng đã được vợ cưới (theo tục lệ của người Chăm), hiện
vợ sắp có đứa con thứ hai, dù con đầu của họ còn rất nhỏ. Vợ ở quê ngoài
Ninh Thuận, dệt thổ cẩm kiếm những đồng lẻ sống qua ngày, Đồng Chuông
Tử thì sống ở Sài Gòn, đi đi về về, anh quyết giữ đam mê của mình và làm
nhiều nghề để sống, để có tiền mua sữa cho con. Có thể nói Đồng Chuông
Tử là một kiểu của dân Sài Gòn, dám sống chết và xả thân cho sở thích của
mình, dù đó là thơ trong buổi vãn chợ chiều.
La Hán Phòng, 17/3/2012.
NHÀ PHÊ BÌNH ĐỖ LONG VÂN (1934‒1997) ‒ SÀI
GÒN VÔ KỴ.
Trong vô số phong cách nổi trội của Sài Gòn thì sự vô húy kỵ là điều dễ
nhận biết nhất. Chính vì “vô kỵ” mà ở đây có đầy đủ đất sống cho đủ hạng
người, nơi của “ngọa hổ tàng long”.
Không phải ngẫu nhiên mà truyện kiếm hiệp chạm đến văn hóa và lối
sống của người Sài Gòn trước 1975. Nhiều tờ báo thời này sống tốt là nhờ
dịch các tác giả kiếm hiệp như Kim Dung, Cổ Long... Trong vô số nhân vật
đầy hấp lực của Kim Dung thì Trương Vô Kỵ là ngoại hạng và được người
Sài Gòn ngưỡng mộ rất nhiều, ông không chỉ là nhân vật tiêu biểu trong tiểu
thuyết Ỷ Thiên Đồ Long ký (còn gọi Cô gái Đồ Long); không chỉ đại diện
cho triết lý sống: “Nhân tại giang hồ, thân bất do kỵ”...; mà còn đi vào tính
cách và sự hành xử đời thực của dân Sài thành.
Luận giải về Kim Dung có rất nhiều người, nhưng viết vừa tường minh
theo chủ nghĩa cấu trúc của Tây phương, vừa mang u mặc, thấu thị theo triết
lý Đông phương thì chỉ có mình Đỗ Long Vân. Tác phẩm phê bình Vô Kỵ
giữa chúng ta hay là hiện tượng Kim Dung là cuốn sách mỏng, ra đời năm
1967, đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng người đọc. Nó không chỉ cắt nghĩa
được sự say mê kiếm hiệp của người Sài Gòn, mà còn lột tả được tinh thần
vô kỵ của người dân nơi đây.
Ngay cả thi sĩ kỳ dị Bùi Giáng, người từng dịch Kim kiếm điêu linh của
Ngọa Long Sinh một cách lý thú và vô tiền kháng hậu, vẫn phải kính nể và
tôn sùng Đỗ Long Vân. Trong Thi ca tư tưởng (1969), ông viết:
“Cuốn sách của ông bàn về Kim Dung nằm trong vùng tư tưởng thâm
viễn như cuốn Nho giáo của Trần Trọng Kim. Chẳng những giúp người Việt
Nam hiểu tư tưởng lớn của thiên tài Trung Hoa, mà còn khiến người Trung
Hoa, người Đông phương, Tây phương nói chung ngày sau sực tỉnh. Tầm
quan trọng của cuốn sách kia quả thật rộng rãi không cùng.
Tôi có thể đưa ra vài nhận định khác ông ở đôi chi tiết. Nhưng không cần.
Điều cốt yếu, ông đã nói xong, và những dư vang vô số sẽ tỏa khắp mọi
chốn. Và sẽ còn khiến người ta thể hội cái mạch thẳm trong những tác phẩm
của những thiên tài xưa nay, bất luận là Đông phương hay Tây phương.
Sách tôi bị cháy hết, nhưng tôi sẽ tìm riêng cuốn Vô Kỵ giữa chúng ta hay
là hiện tượng Kim Dung để đọc lại nhiều lần...”.
Nhà văn Nguyễn Quốc Trụ thì cho biết:
“Cuốn tiểu luận được viết bằng bút pháp ấn tượng, với tầm nhìn sâu rộng
và những phân tích tỉ mỉ, nên nhanh chóng nhận được sự hoan nghênh của
người đọc. Nguyên Sa đánh giá cao tác phẩm này, còn Bùi Giáng thì tỏ ra
hết sức khâm phục, ông thường nhắc đến cuốn sách trong các bài luận kiếm
hiệp của mình như một đỉnh cao khó vươn tới.
Cuốn sách này không xét tới bộ truyện ưu tú Lộc Đỉnh Ký, vì khi ấy bộ
truyện này chưa ra đời. Tập sách chỉ xoay quanh Thiên long bát bộ, Anh
hùng xạ điêu, Thần điêu đại hiệp, Ỷ Thiên Đồ Long k...
 





