TÀI NGUYÊN THƯ VIỆN

GÓC VĂN HỌC - KĨ NĂNG VIẾT VĂN

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Đăng nhập

    10 vạn câu hỏi vì sao

    BẢN TIN HÔM NAY

    Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

    GIỚI THIỆU CUỐN SÁCH ĐÁNH THỨC TRÍ THÔNG MINH

    Ảnh ngẫu nhiên

    6.jpg 3.jpg 5.jpg 4.jpg Anh_3.jpg Anh_2.jpg Anh_1.jpg Thu_vien_xanh.jpg HS_tai_goc_giai_tri.jpg Vui_choi_giai_tri.jpg GV.jpg Gv_trao_doi_chuyen_mon.jpg GV_doc_sach.jpg GV_doc_sach_tai_TV_xanh.jpg Doc_sach.jpg Doan_danh_gia_ngoai.jpg Anh_hoc_sinh_doc_sach.jpg Anh_gioi_thieu_thu_vien.jpg 7A4.jpg Lop_7A1.jpg

    Suy ngẫm thiện và ác

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Thanh
    Ngày gửi: 10h:40' 29-03-2024
    Dung lượng: 955.6 KB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    Thông tin sách

    Tên sách: SUY NGẪM VỀ THIỆN VÀ ÁC
    Nguyên tác: Living with the Devil
    Tác giả: Stephen Batchelor
    Người dịch: Nguyễn Kim Dân
    Nhà phát hành: Văn Lang
    Nhà xuất bản: NXB Lao Động
    Khối lượng: 200g
    Kích thước: 13.5 x 21 cm
    Ngày phát hành: 07/2011
    Số trang: 184
    Giá bìa: 40.000đ
    Thể loại: Tôn giáo

    Thông tin ebook

    Nguồn: Tve-4u
    Thực hiện ebook: thanhbt
    Ngày hoàn thành: 06/02/2017
    Dự án ebook #285 thuộc Tủ sách BOOKBT
    Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com

    Giới thiệu

    Học giả Phật giáo Tây Tạng, Stephen Batchelor đã mang đến cho chúng ta
    cái nhìn thấu suốt về cuộc đấu tranh giữa thiện và ác, giữa ánh sáng và bóng
    tối qua ẩn dụ về chiến thắng của Đức Phật với quỷ Mara, Chúa Giê-su với
    quỷ Satan... Đây cũng chính là cuộc đấu tranh không ngừng của con người
    để vươn tới Chân Thiện Mỹ, dù ở Phương Đông hay Phương Tây.
    Đây là cuốn sách dành cho những người giống như tôi, thấy bản thân mình
    đang sống giữa những câu chuyện hoang đường khác nhau và có lúc xung
    đột nhau - những câu chuyện mang tính sử thi giúp chúng ta cảm nhận về
    cuộc sống ngắn ngủi trên trái đất. Một số câu chuyện hoang đường bắt nguồn
    từ những khoảng thời gian và không gian xa xưa, trong khi một số câu
    chuyện khác lại là sản phẩm của thế giới hiện đại.
    Cho dù những câu chuyện hoang đường mà chúng ta kế thừa từ quá khứ phát
    xuất từ một tôn giáo theo thuyết nhất thần, chẳng hạn Do Thái giáo hay Cơ
    Đốc giáo, hoặc xuất phát từ một truyền thống vô thần, chẳng hạn như Phật
    giáo, thì chúng vẫn có cùng quan điểm cho rằng cuộc sống của con người chỉ
    là một phần của cái mênh mông rộng lớn vượt quá sức của nó. Cả hai đều tin
    vào những thế lực giấu mặt đang hoạt động - cho dù là thế lực của Thượng
    Đế hay nghiệp chướng - thì nó cũng đã ném chúng ta vào thế giới này để đối
    mặt với một nhiệm vụ khó khăn là cứu rỗi bản thân để đạt đến sự bất diệt.
    Những câu chuyện hoang đường của thời hiện đại hết sức gần gũi, khó có
    thể nhận ra chúng có phải là những câu chuyện hoang đường hay không.
    Ngay cả những người sống trong xã hội cận đại theo Phật giáo hay Cơ Đốc
    giáo cũng không coi sự hiểu biết của mình về thế giới là mang tính hoang
    đường, và chúng ta cũng không thể coi những câu chuyện hoang đường là cơ
    sở để phán đoán xem chúng ta là ai và loại vũ trụ mà chúng ta đang cư trú là
    gì. Một câu chuyện hoang đường có ảnh hưởng lớn trong thời hiện đại đã
    phổ biến ở phương Tây trong hai thế kỷ qua, dựa trên những hiểu biết mang
    tính khoa học về thế giới. Người ta cho rằng đó là nguồn gốc đầy thuyết
    phục về vũ trụ và đời sống tri giác, đó là lời giải thích và tiên đoán về sức
    mạnh vô cùng của vũ trụ, đó là những kỹ thuật có thể tạo nên ấn tượng sâu
    sắc bởi sự hiểu biết của nó về thế giới vật chất, do đó chúng ta không chấp
    nhận bất cứ điều gì mang tính hoang đường về nó.

    Lời tựa
    Tôi không biết ai đã đặt tôi vào thế giới này, không biết thế giới này là gì,
    cũng không rõ bản thân mình là ai? Tôi đang thật sự thờ ơ với tất cả mọi thứ,
    tôi không biết thân xác, cảm nhận, linh hồn của tôi là gì, thậm chí không biết
    các bộ phận trong cơ thể nghĩ gì về những điều tôi nói, tôi nhận ra bản thân
    mình và tất cả mọi thứ nhưng lại không biết rõ bản thân mình bằng những
    thứ khác. Tôi nhìn thấy những khoảng không đáng sợ của vũ trụ đang bao
    bọc quanh mình, tôi thấy mình được gắn vào một góc nào đó của dải đất này
    nhưng không biết lý do tại sao mình lại được đặt ở đó mà không đặt ở một
    nơi nào khác, hoặc lý do tại sao cuộc đời được định sẵn của tôi cần phải
    được quy định ở giây phút này thay vì ở giây phút khác trong tất cả thời gian
    vô tận đã đi trước và sẽ theo sau tôi. Tôi chỉ thấy tính vô cùng tận trong tất
    cả mọi khía cạnh, bao bọc quanh tôi như một quả bom nguyên tử hay một
    chiếc bóng tan biến đi trong một thoáng...
    Blaise Pascal

    Mục lục
    Phần 1: THƯỢNG ĐẾ THỜI NAY
    Chương 1: NHỮNG CÂU CHUYỆN HOANG ĐƯỜNG
    Chương 2: NHU CẦU NÀY ĐÃ KHÔNG XẢY RA
    Chương 3: MARA - KẺ SÁT NHÂN
    Chương 4: SATAN - ĐỐI THỦ
    Chương 5: BUỒN CHÁN VÀ BẠO LỰC
    Phần 2: TẠO RA CON ĐƯỜNG
    Chương 6: SỢ HÃI VÀ RUN RẨY
    Chương 7: VÒNG TRÒN MA QUỶ
    Chương 8: MA QUỶ TRÊN ĐƯỜNG ĐI
    Chương 9: KHOẢNG KHÔNG TRỐNG RỖNG
    Chương 10: TỪ CÓ NHÀ ĐẾN KHÔNG NHÀ
    Chương 11: ĐIỀU NÀY LÀ GÌ?
    Chương 12: ĐIỀU BÍ ẨN CỦA THẾ GIỚI
    Chương 13: TRỞ NÊN Ý THỨC
    Chương 14: CƠ THỂ NÀY ĐANG THỞ
    Chương 15: HỌC CÁCH CHỜ ĐỢI
    Phần 3: SỐNG VỚI MA QUỶ
    Chương 16: CUỘC SỐNG CỦA MỘT NGƯỜI BÌNH
    THƯỜNG
    Chương 17: “ĐỪNG LÀM TỔN THƯƠNG TÔI”
    Chương 18: NỖI ĐAU KHỔ CỦA NGƯỜI KHÁC
    Chương 19: SỰ HÓA THÂN
    Chương 20: VĂN HÓA CỦA HÀNH VI NHẬN THỨC

    Chương 21: VƯƠNG QUỐC CỦA MARA
    Chương 22: NGHE TIẾNG KHÓC
    Chương 23: TÌNH TRẠNG HỖN LOẠN CỦA CÁC KHOẢNG
    TRỐNG
    Về tác giả

    Phần 1: THƯỢNG ĐẾ THỜI NAY
    Chương 1: NHỮNG CÂU CHUYỆN HOANG ĐƯỜNG
    Đây là cuốn sách dành cho những người giống như tôi, thấy bản thân mình
    đang sống giữa những câu chuyện hoang đường khác nhau và có lúc xung
    đột nhau - những câu chuyện mang tính sử thi giúp chúng ta cảm nhận về
    cuộc sống ngắn ngủi trên trái đất. Một số câu chuyện hoang đường bắt nguồn
    từ những khoảng thời gian và không gian xa xưa, trong khi một số câu
    chuyện khác lại là sản phẩm của thế giới hiện đại.
    Cho dù những câu chuyện hoang đường mà chúng ta kế thừa từ quá khứ phát
    xuất từ một tôn giáo theo thuyết nhất thần, chẳng hạn Do Thái giáo hay Cơ
    Đốc giáo, hoặc xuất phát từ một truyền thống vô thần, chẳng hạn như Phật
    giáo, thì chúng vẫn có cùng quan điểm cho rằng cuộc sống của con người chỉ
    là một phần của cái mênh mông rộng lớn vượt quá sức của nó. Cả hai đều tin
    vào những thế lực giấu mặt đang hoạt động - cho dù là thế lực của Thượng
    Đế hay nghiệp chướng - thì nó cũng đã ném chúng ta vào thế giới này để đối
    mặt với một nhiệm vụ khó khăn là cứu rỗi bản thân để đạt đến sự bất diệt.
    Những câu chuyện hoang đường của thời hiện đại hết sức gần gũi, khó có
    thể nhận ra chúng có phải là những câu chuyện hoang đường hay không.
    Ngay cả những người sống trong xã hội cận đại theo Phật giáo hay Cơ Đốc
    giáo cũng không coi sự hiểu biết của mình về thế giới là mang tính hoang
    đường, và chúng ta cũng không thể coi những câu chuyện hoang đường là cơ
    sở để phán đoán xem chúng ta là ai và loại vũ trụ mà chúng ta đang cư trú là
    gì. Một câu chuyện hoang đường có ảnh hưởng lớn trong thời hiện đại đã
    phổ biến ở phương Tây trong hai thế kỷ qua, dựa trên những hiểu biết mang
    tính khoa học về thế giới. Người ta cho rằng đó là nguồn gốc đầy thuyết
    phục về vũ trụ và đời sống tri giác, đó là lời giải thích và tiên đoán về sức
    mạnh vô cùng của vũ trụ, đó là những kỹ thuật có thể tạo nên ấn tượng sâu
    sắc bởi sự hiểu biết của nó về thế giới vật chất, do đó chúng ta không chấp
    nhận bất cứ điều gì mang tính hoang đường về nó.
    Cho dù những điều chúng ta tin có thể được xác minh bằng kinh nghiệm thì
    cũng không thay đổi được bản chất của nó là một câu chuyện hoang đường.
    Bất kể thế giới khoa học hiện đại “đúng đắn” đến đâu thì câu chuyện hoang
    đường vẫn đóng một vai trò quan trọng trong cuộc sống ngày nay, tương tự,
    thế giới quan tiền khoa học cũng đã từng đóng vai trò quan trọng trong nền
    văn hóa tiền hiện đại. Vì nó giải thích quá rõ cuộc sống của loài người chỉ là

    một phần trong cái mênh mông rộng lớn vượt quá sức của mình. Nó còn
    được duy trì bởi những niềm tin. Chúng ta tin rằng vũ trụ đã hoàn toàn nổ
    tung cách nay 15 tỷ năm; chúng ta tin rằng loài người tiến hóa bởi sự chọn
    lọc ngẫu nhiên của đột biến gien di truyền từ những dạng thức nguyên thủy
    sơ khai của cuộc sống; chúng ta tin vào sự tồn tại của điện tử và các hạt vi
    lượng. Nhưng liệu chúng ta có thể chứng minh sự thật về bất cứ loại hạt nào
    trong số này khi có kẻ không tin tưởng vào chúng không?
    Sự hiểu biết của con người luôn bị hạn chế và mang tính cục bộ. Điều duy
    nhất thực sự đúng đối với bất cứ ai, cho dù thông minh và được thông tin tốt
    cỡ nào, là có thể đòi hỏi được biết một cách hợp lý về tính chắc chắn. Bất cứ
    điều gì anh ta biết nhất thiết phải thông qua những công cụ, cảm xúc, lý trí
    và trí tuệ của anh ta. Điều không thể đối với anh ta là phải sử dụng một quan
    điểm thuận lợi không được sắp đặt sẵn, độc lập với những công cụ và tách
    biệt với cơ thể khi anh ta kiểm tra xem kiến thức có sẵn của mình có đáp ứng
    thực tế như vậy hay không? Cho dù điều này có thể được giải thích rõ ràng,
    thực tế vẫn giữ nguyên bản chất bí ẩn của nó. Còn những vấn đề lớn lao đầy
    ý nghĩa như sinh ra và chết đi, làm điều thiện và điều ác..., thì các ngành
    khoa học tự nhiên vẫn chưa hé lộ.
    Nhưng những câu chuyện hoang đường mà tổ tiên xưa truyền lại vẫn tiếp tục
    hiện diện. Chúng ta tiếp tục rút ra từ chúng câu trả lời cho những vấn đề của
    mình. Những người công khai theo thuyết vô thần và chủ nghĩa vật chất đều
    cảm thấy khó chịu bởi những trích đoạn trong Kinh Thánh. Một người cải
    tâm sang đạo Phật nhưng lại cảm nhận được cảm giác thiêng liêng gần gũi
    trong một nhà thờ đổ nát ở vùng quê nước Anh hơn là trong những thiền
    viện mà bà đã từng đến ở Tây Tạng. Vậy trong những giây phút tuyệt vọng,
    ai có thể kêu gọi được sự giúp đỡ của Đấng tối cao mà họ đã từ bỏ?
    Là một người phương Tây theo đạo Phật từ 30 năm qua, tôi đã nhận ra
    những câu chuyện hoang đường tồn tại song song trong tôi và đang lôi kéo
    sự chú ý của tôi. Tôi không theo đạo Cơ Đốc nhưng tôi nhận ra mình đã bị
    tiêm nhiễm bởi những câu chuyện hoang đường và những giáo lý Cơ Đốc
    của kỷ nguyên hậu Cơ Đốc giáo, môi trường đầy tính nhân bản tự do bao bọc
    quanh tôi. Tạm thời, tôi thiên về nghệ thuật hơn là khoa học, nhưng tôi cảm
    kích trước một thế giới quan mang tính khoa học đang phát triển, thông tin
    về một xã hội mà tôi là một phần tử trong đó. Tôi đã cống hiến cả cuộc đời
    mình cho việc dịch những bản văn về Phật giáo, những lời giáo huấn về sự
    suy ngẫm và triết lý nhà Phật, đồng thời viết những cuốn sách giải thích về
    đạo Phật đương đại. Khi cố gắng tìm hiểu và kết nối những bài giảng cùng
    những câu chuyện hoang đường về đức tin của mình, tôi liên tục nhận ra

    những tiếng nói khác tương tự như suy nghĩ của tôi.
    Trọng tâm hành vi nhận thức của Đức Phật nằm trong sự nhận biết phản trực
    giác về cảm nhận của con người theo một hình thức hoàn toàn ngẫu nhiên,
    không chắc chắn và nhất thời. Bằng việc cố gắng tập trung sự chú ý và
    không lệ thuộc vào cuộc sống khi nó bộc lộ bên trong và chung quanh mình,
    thái tử Tất Đạt Đa (theo lịch sử của Đức Phật) đã nhận thấy rằng không có
    bản chất cơ bản nào có thể đứng vững, nó phải đứng lùi lại và xem xét sự
    tích hợp của màu sắc, hình dáng, âm thanh, cảm giác, suy nghĩ, cảm nhận đã
    nảy sinh và biến mất trong từng giai đoạn của ý thức. Sự nhận thức sâu sắc
    đáng kinh ngạc này đã làm Ngài hết sức xúc động về những gì Ngài cảm
    thấy đó là bản thân mình. Sức thuyết phục mang tính bản năng của một sinh
    vật đại diện cho cái “tôi” biệt lập và không thay đổi đã bị sụp đổ. Cuộc sống
    đúng là một chuỗi những diễn biến ngẫu nhiên mang tính thăm dò đáng kinh
    ngạc, đưa con người vào một chuỗi những nguyên nhân và kết quả phức tạp,
    nhưng không có sự khởi đầu rõ rệt và không có sức mạnh thiêng liêng bí ẩn
    nào hướng dẫn chúng đi đến một kết thúc được định trước.
    Thái tử Tất Đạt Đa thấy rằng việc phát hiện về vô ngã và thực tế vô thần
    giúp mình cảm nhận tự do một cách sâu sắc. Ngài được tự do thoát khỏi
    những thôi thúc cùng nỗi sợ hãi của một người tự cho mình là quan trọng,
    điều từng làm Ngài vướng vào một vòng xoáy vô tận của sự nhàm chán và
    khổ não. Ngài muốn nhắc đến sự tự do như là “cõi Niết bàn” - nghĩa đen là
    “việc thổi bay” những “đốm lửa” của sự bất bình, liên quan đến sự tồn tại
    của con người. Ở một khía cạnh khác, Ngài nói về điều này với nghĩa là “hư
    không”: là một không gian mở mà ở đó, ý tưởng trở thành một bản chất cô
    lập và bất diệt đã không còn khả năng làm vướng bận một ai. Hư không này
    là “nơi ở của một con người vĩ đại”, nơi người ta có thể đối đầu và đáp trả
    thế giới bằng một cái nhìn vị tha nhưng đầy cảnh giác.
    Một khoảng hư không không tìm thấy ý nghĩa và giá trị chính là sự đối lập
    với những gì Đức Phật muốn nói đến dưới dạng một “hư vô”. Đối với Ngài,
    sự hiểu biết về hư không đã biến cái vòng ám ảnh về những nỗi sợ hãi và
    lòng khao khát thành sự khôn ngoan và chu đáo, nhằm đề cao tính tự do và
    sự đáp ứng nhiệt tình bên trong. Thay cho sự thiếu vắng ý nghĩa và giá trị, là
    sự thiếu vắng những hạn chế và kìm hãm năng lực của một người nhằm nhận
    biết cuộc đời con người có khả năng trở thành cái gì.
    Khi hư không được đề cập như một khía cạnh tinh tế của hiện thực hay một
    tình trạng mang tính hoang đường của tinh thần, thì nó vẫn có nguy cơ được
    tôn sùng quá đáng như một đối tượng tôn giáo có đặc quyền khác.

    Nagarjuna, nhà tư tưởng vĩ đại của Ấn Độ thế kỷ II đã nhận thức một cách
    sâu sắc về hiểm họa này:
    Đức Phật nói hư không
    Là đang buông trôi những quan điểm
    Những tín đồ đang chìm trong cõi hư không
    Là những kẻ bất trị
    Hư không phải là điều thiêng liêng có thể tin tưởng được. Đó là một sự gột
    rửa: bỏ qua những giáo điều từng trói buộc con người vào lớp vỏ cứng chắc
    của bản thân, nhưng dường như lại tồn tại trong trạng thái tách rời khỏi
    những rắc rối của cuộc sống. Hành vi gột rửa này dẫn tới việc phá bỏ những
    định kiến hà khắc và gây trở ngại cho tinh thần - giống như một rào chắn bắc
    ngang con sông - để cho dòng cuộc sống bị kìm nén được tự do chảy đi...
    Việc từ bỏ, cho dù tạm thời và không cố ý này sẽ không bôi xóa bạn, mà sẽ
    mở ra trước mắt bạn một thế giới phù du và đầy tính ngẫu nhiên để bạn cùng
    chia sẻ với những tạo vật đầy lo lắng khác giống bạn. Điều này có thể rất
    khủng khiếp vì chắc chắn trong một thế giới như vậy, đến một lúc nào đó,
    bạn sẽ chết. Bạn nhận thấy bản thân mình không phải là một thứ ổn định hay
    mang bản chất riêng biệt, mà chỉ là một câu chuyện phức tạp, mang tính
    thăm dò, đang vội vã đi đến kết luận. Điều này có thể thúc giục bạn gấp rút
    quay trở lại với nhận thức, niềm tin cùng những thói quen làm bạn cảm thấy
    an toàn. Nhưng khi hành vi trút bỏ đã bắt đầu thì việc bám víu vào những
    niềm an ủi sẽ cản trở bạn cảm nhận một cuộc sống an toàn. Để trở về trạng
    thái hư không, như Nagarjuna đã khẳng định, bạn phải đối mặt với điều ngẫu
    nhiên bất kỳ, không được chọn lọc trong cuộc sống. Thách thức của trạng
    thái hư không là lao vào dòng chảy xiết của cuộc sống thay vì lảng vảng
    ngập ngừng trên bờ vực ...
    “Điều ngẫu nhiên”, là sự diễn dịch ngắn gọn và chính xác về khái niệm
    paticcasamuppada của nhà Phật (thường được diễn tả như “sự bắt nguồn phụ
    thuộc”). Bất cứ điều gì ngẫu nhiên đều phụ thuộc vào một thứ khác vì sự tồn
    tại của mình. Chúng ta tạo nên những kế hoạch “ngẫu nhiên” vì cuộc sống
    đầy những điều bất ngờ, và bất kể sự chuẩn bị của chúng ta ra sao thì mọi
    thứ cũng thường không xảy ra như đã định. Tính phức tạp của các phương
    thức sống làm con người khó có thể nhìn thấy trước một hệ thống đã cho (có
    thể là một người hay một vật) sẽ cư xử như thế nào trong giai đoạn kế tiếp,
    hay bị bỏ mặc một mình như thế nào trong tháng hoặc năm kế tiếp. Điều

    ngẫu nhiên bộc lộ tình trạng tự do hỗn loạn ngay trung tâm của những sự
    việc được sắp xếp theo thuyết nhân quả. Tuy nhiên, muốn nhờ đến bàn tay
    của Thượng đế, nghiệp chướng hay số mệnh để truyền một mệnh lệnh bí mật
    cho điều ngẫu nhiên, đòi hỏi con người phải có thiện chí để chấp nhận khả
    năng không thể loại trừ và không thể đoán trước được, thay vì đạt tới trạng
    thái thoải mái, dễ chịu của lý thuyết suông.
    Trái với “điều ngẫu nhiên” là “tính cần thiết”. Bất kể nhận thức về cuộc đời
    tầm thường và chóng tàn như thế nào thì tôi cũng không thể rũ bỏ sự thuyết
    phục mang tính trực giác từ trong tâm hồn, sự tồn tại của tôi là cần thiết
    trong việc hoạch định mọi thứ. Bằng việc tập trung sự chú ý cao độ vào bản
    chất ngẫu nhiên của cảm nhận, việc thực hành suy ngẫm của đạo Phật sẽ
    thách thức cảm giác bản năng của chúng ta, theo cách nói về Satan của
    Milton là “Tự mình sinh ra, tự mình nổi lên/Bằng sức mạnh ngày càng lớn
    của riêng mình”. Sự nhận thức sâu sắc về trạng thái hư vô của bản thân sẽ
    đạt được không chỉ qua việc loại bỏ bản thân mà còn qua việc tìm hiểu xem
    nó là ngẫu nhiên hay cần thiết.
    Khi bản tính ngoan cường, cứng cỏi của các bản chất và sự vật thiết yếu bị
    phá hủy trong bối cảnh của trạng thái hư vô thì một thế giới ngẫu nhiên sẽ
    mở ra những điều mơ hồ và hay thay đổi, mê hoặc và khủng khiếp. Không
    những thế giới này bộc lộ trước chúng ta vẻ uy nghi, khôn khéo và phức tạp
    một cách đáng sợ, mà một ngày nào đó, nó sẽ nuốt chửng chúng ta trong làn
    ranh hỗn độn của nó cùng với tất cả những thứ khác mà chúng ta yêu thích.
    Vẻ đẹp sâu sắc của sự sáng tạo không thể tách khỏi tính chất hủy diệt tàn bạo
    của nó. Làm thế nào để sống trong một thế giới hỗn độn với sự khôn ngoan,
    khoan dung, chân thành, chu đáo và không có bạo lực chính là những gì mà
    các vị thánh cùng những triết gia đã cố gắng làm sáng tỏ trong nhiều thế kỷ
    qua. Đó cũng chính là những gì mà Phật giáo đang cố gắng đạt được thay vì
    thừa nhận bản chất bất tử hay siêu việt, nằm ngoài sự thăng trầm của thế
    giới. Đức Phật luôn cho rằng sự cứu rỗi nằm trong hành vi tháo bỏ những ý
    nghĩ kỳ quặc và thay vào đó là nắm lấy cuộc sống trần tục muốn phá hủy
    bạn.
    Cuốn sách này là sự suy ngẫm về một số vấn đề lâu đời. Trong đó nhiều nhất
    là giải thích về những câu chuyện hoang đường, những học thuyết, triết lý và
    thực hành của nhà Phật. Tuy nhiên khi người nào đó thấy bản thân mình
    đang cư trú tại kẽ hở giữa những nền văn hóa và truyền thống, thì những ý
    tưởng về đạo Phật sẽ được đặt gần nhau và được đan xen vào nhau bằng
    những chất liệu lấy từ những nguồn khác như Kinh Thánh, thơ của
    Baudelaire, Roland Barthes và thuyết sinh học tiến hóa. Mặc dù tôi trích dẫn

    những bản kinh theo thuyết nhất thần nhưng tôi không tin vào Thượng đế
    nhiều hơn việc tôi tin vào Hamlet. Điều này không có nghĩa là Thượng đế
    cũng như Hamlet đều không có gì đáng nói. Những trang sách tập trung vào
    những nhân vật mang tính hoang đường và lịch sử, bắt nguồn từ những
    truyền thống, phong tục khác nhau. Con đường tôi đi men theo kẽ hở giữa
    những tôn giáo cùng những câu chuyện hoang đường lâu đời giúp tôi cảm
    nhận về cuộc sống. Càng tiến xa hơn, tôi càng nghi ngờ con đường này
    không có gì ngoài những kẽ hở hỗn độn của bản thân chúng.

    Chương 2: NHU CẦU NÀY ĐÃ KHÔNG XẢY RA
    Mẹ đã tình cờ xóa bỏ lòng tin về sự tồn tại của tôi là cần thiết khi tôi 16 tuổi.
    Đó là vào ngày lễ Giáng Sinh.
    Bà và cô em gái đang xem lướt qua những tấm ảnh nằm trên bàn bếp. Đó là
    những bức ảnh chụp một người đàn ông mặc quân phục - mắt nheo lại dưới
    ánh nắng mặt trời sa mạc, miệng ngậm cán tẩu. Mẹ nói: “Nếu tất cả mọi thứ
    xảy ra khác đi thì ông ta đã có thể là cha con”. Tôi nghĩ: “Nếu ông ấy là cha
    tôi thì tôi có còn là tôi không?”.
    Cái nhìn thoáng qua của tuổi mới lớn về điều ngẫu nhiên đã bất ngờ ám ảnh
    tôi. Cho dù sự thuyết phục theo trực giác nói rằng sự hiện diện của tôi trong
    thế giới này có chút gì đó cần thiết, thì khả năng không chắc chắn và đáng lo
    ngại mà tôi không cần đến vẫn đang gặm nhắm. Bỏ qua sự chọn lựa của mẹ
    tôi đối với những người theo đuổi bà, có phải thực sự còn có vô số tinh trùng
    của một người cha khác được cấy vào tử cung của mẹ tôi không? Có phải
    đứa trẻ được sinh ra từ sự pha trộn các nhiễm sắc thể như vậy là tôi không?
    Hoặc nếu có một loại tinh trùng tương tự đã tìm ra nơi trú ẩn trong chu kỳ
    rụng trứng kế tiếp của mẹ tôi, có phải đứa bé đó là tôi không?
    Hoặc nếu khẩu súng của cảnh sát đã bắn chết Erwin von Scheubner - Richter
    vào ngày 9 tháng 11 năm 1923 lệch góc sang phải một chút thì có phải nó đã
    bắn trúng Adolf Hitler không? Nếu Hitler chết, mẹ tôi và người đàn ông mà
    bà dự định kết hôn có phải đã không gặp nhau ở hoang mạc Bắc Phi không?
    Giống như vậy, tấm ảnh tương tự cũng đã được góp nhặt bằng những cách
    thức không thể đoán trước được trong vô số hoàn cảnh, lựa chọn và sự việc,
    dẫn dắt bà đến gặp người cha thực sự của tôi vài năm sau đó.
    Là một trong số 6 tỷ con người đang lo lắng, tôi nhấn mạnh sự không thể khi
    dành ra hơn 27 năm trên hành tinh này để lật đổ niềm tin vững chắc trong
    thâm tâm cho rằng tôi là một linh hồn độc lập và vĩnh cửu. Tuy nhiên, khi
    nào tôi còn có thể nhớ được, điều này cũng tương tự như tôi đã nhìn một
    cách thành thật và chăm chú vào thế giới của mọi vật và mọi người, tránh xa
    cái tổ chim đơn độc được che giấu bên trong xác thịt này. Con người mà câu
    chuyện của ông ta bắt đầu bằng việc nhớ lại khi ngồi trong lòng một người
    phụ nữ, nép mình vào những nếp áo choàng lông thú của bà, chăm chú nhìn
    qua cửa sổ máy bay nhìn xuống những ngôi nhà cùng những chiếc xe hơi
    nhỏ xíu của thành phố Toronto, dường như đã trở thành một con người thực
    sự mà giờ đây đang viết những dòng chữ này.

    Bằng cách thức trừu tượng và không hiệu quả, tôi biết điều này không thể là
    sự thực. Vì tôi đã lớn lên và thay đổi. Tôi không còn nhận định được đó là
    thể xác 3 tuổi hay trí óc 30 tuổi của mình. Về mặt thể chất, cảm xúc và tinh
    thần, tôi đã trở thành một người khác. Nhưng tôi không thể chịu được cảm
    giác mình vẫn là người từng ngọ nguậy những ngón tay mũm mĩm và bộc lộ
    niềm vui thích trẻ thơ. Ngay khi tôi hướng sự chú ý của mình vào con người
    thực sự này thì anh ta lại trườn người đi. Anh ta biến mất.
    Tôi không chọn có mặt ở đây, nhưng giờ đây tôi không thể chấp nhận được ý
    nghĩ mình không tồn tại. Tuy có một cảm nhận nào đó về tính cần thiết trong
    sự hiện hữu của mình, nhưng điều chắc chắn duy nhất mà tôi phải đối mặt là
    con người có vẻ cần thiết đó sẽ bị tàn lụi đi. Trái tim này sẽ ngừng bơm máu,
    hai lá phổi này sẽ ngừng việc hút dẫn khí, các tế bào thần kinh này sẽ ngừng
    kích thích trí não tôi. Thể xác tôi sẽ thối rữa hoặc bị ngọn lửa thiêu rụi và
    theo thời gian, tôi chỉ còn sống lay lất như những sợi chỉ mỏng manh, như
    một ký ức trong trí nhớ nhạt nhòa của những người đã có dịp gặp tôi. Và khi
    những sợi chỉ này biến mất, chỉ còn những tấm ảnh cùng những dấu vết mà
    tôi để lại trên báo chí và đĩa vi tính. Rồi chẳng bao lâu, những dấu vết này
    cũng sẽ trở thành cát bụi.
    Tôi né tránh những ý nghĩ đó bằng việc tập trung hoàn thành những công
    việc bận bịu trong ngày. Hay nói cách khác, sự thôi thúc bản năng để tồn tại
    đã giúp tôi tập trung vào công việc này. Vì ngay cả khi ngừng suy ngẫm về
    tính ngẫu nhiên và nhất thời của sự tồn tại, tôi thấy bản thân mình liên tục bị
    giằng xé bởi những ý nghĩ và cảm giác khác đang đòi được chú ý. Tôi không
    muốn thoát khỏi sự suy tư sâu lắng nhưng tôi thấy khó có thể ngăn được sự
    thôi thúc đó đi đến một nơi nào khác. Những lúc như vậy, toàn bộ cơ thể tôi
    là đối tượng của những sự thôi thúc mà tôi chỉ vừa vặn kiểm soát được. Bất
    chấp điều đó, tôi đã rút khỏi sự nhận thức về tính thay đổi liên tục của cuộc
    sống và trở về với lớp vỏ của mối bận tâm: lo nghĩ về bản thân mình.
    Khi Dante bước vào tầng thứ chín và là tầng cuối cùng của địa ngục, ông
    thấy mình đứng bên lề của một tảng băng khổng lồ. Ông ta tránh một cơn gió
    tối tăm, lạnh lẽo và phát hiện ra Satan đã nhận chìm lồng ngực mình vào
    tảng băng, vỗ mạnh sáu chiếc cánh giống như cánh dơi. Trái với những tầng
    địa ngục bắt lửa bên trên, nơi những linh hồn phải chịu sự tra khảo tàn bạo
    dựa trên tội lỗi, thì ở đây “vua của tất cả những tai họa” đã bị đông cứng lại
    và bị sập bẫy. Tương tự, nỗi lo sợ không ngừng cùng cảm giác khao khát
    trong tôi như được điều khiển bởi một bản chất tàn bạo dường như đã bị
    đông cứng lại. Đây là nơi sự chối bỏ điều ngẫu nhiên bất ngờ của cuộc sống
    và sự khẳng định tính cần thiết của riêng tôi được cảm nhận mạnh mẽ nhất.

    Sự tấn công bất ngờ của Dante vào địa ngục cho thấy càng đến gần trái tim
    của người bị mê muội thì bạn càng bị tước đi ánh sáng và sự nóng ấm. Bạn
    cảm thấy xa lạ và tuyệt vọng. Địa ngục là một cách nói ẩn dụ về cảnh hoang
    tàn hiu quạnh ấy.
    Nhưng ma quỷ chỉ là một cách tượng trưng, miêu tả một phản ứng có tính
    cưỡng bức đối với thế giới ngẫu nhiên để đi vào nơi chúng ta bị ném vào từ
    lúc mới sinh. Có điều gì đó thật mãnh liệt về bản thân thế giới ngẫu nhiên.
    Đây là nơi những điều chúng ta không muốn xảy ra đã xảy ra. Tiếng bánh xe
    nghiến xào xạo trên băng tuyết và quẹo ra khỏi con đường để chui vào
    những lùm cây thay vì đi tới điểm đến của chúng. Lũ lụt, bom đạn và động
    đất đã nhanh chóng phá hủy những gì do lao động tạo ra. Lúc tôi cảm thấy bị
    bao vây mọi phía: bên trong thì thôi thúc làm thế nào để tồn tại, bên ngoài thì
    bị khống chế, lấn át bởi thảm kịch của một thế giới đau khổ. Cho dù tôi đã
    lựa chọn làm điều tốt một cách chân thành và nhiệt tình thì tôi vẫn tiếp tục
    làm điều ngược lại. Tôi nói về những giá trị được kiểm soát chặt chẽ nhất
    nhưng chỉ thấy bản thân mình đang ngày càng phản bội lại chúng. Tôi
    nguyện cống hiến cuộc đời mình cho sự phồn vinh, hạnh phúc của người
    khác nhưng vẫn cương quyết giữ lại lời cam kết về sự phồn vinh, hạnh phúc
    của riêng mình.
    Shantideva, tín đồ Phật giáo Ấn Độ thế kỷ VIII đã viết: “Tôi ao ước thoát
    khỏi sự đau đớn nhưng vẫn phải xông vào nó; tôi khao khát hạnh phúc
    nhưng phải điên cuồng tiêu diệt nó như một kẻ thù”. Hàng ngàn năm sau,
    Pascal đã nhận xét: “Chúng ta khao khát chân lý nhưng chỉ thấy bản thân
    mình không có gì ngoài những điều không chắc chắn. Chúng ta tìm kiếm
    hạnh phúc nhưng chỉ thấy đau khổ và chết chóc”. Những mâu thuẫn như vậy
    còn nhiều hơn những sai sót đạo lý thông thường có thể sửa chữa được bằng
    nỗi lo của sự trừng phạt hay sự bộc phát nhất thời tính ngay thẳng. Dường
    như nó xuất hiện để thêu dệt tấm vải cho chính sự tồn tại.
    Thậm chí khi một giọng nói kẻ cả điềm tĩnh nói tôi đang mâu thuẫn với
    chính mình bằng việc thỏa mãn một sự cưỡng bức, vậy tại sao tôi lại thấy
    quá khó để từ bỏ nó? Điều này giống như có một sức mạnh to lớn đang dẫn
    dắt tôi hướng đến một số mệnh lệnh không thể thoái thác. Phần nào trong tôi
    bị mê hoặc, như đang mộng du, tuân theo một sức hút đầy đam mê dẫn tới
    một cảm nhận mà người ta không thể từ bỏ. Tôi biết nguyên nhân tại sao tôi
    không thể làm những gì mình có thể làm nhưng dường như không thể cưỡng
    lại được. Cuộc đấu tranh để chống lại sự mê hoặc quyến rũ cũng tương tự
    như cuộc đấu tranh chống lại sức lôi kéo của thủy triều. Và những điều khao
    khát này là những chiếc bóng mờ nhạt của những gì sâu xa và tăm tối hơn,

    cuốn đi sự hiện hữu của chúng ta, nó được gọi là ma quỷ...

    Chương 3: MARA - KẺ SÁT NHÂN
    Trong các câu chuyện thần thoại, ma quỷ là những kẻ bạo ngược, thích thú
    với việc gây đau khổ cho nạn nhân của mình. Sức mạnh bền bỉ của chúng đã
    làm cho những người mê muội cảm nhận được tình hình hiện tại và sự tê liệt
    tâm lý của mình. Khi bị ma quỷ bắt giữ, người ta cảm thấy ngột ngạt khó
    thở, bị đè nén và mệt nhọc như một người gắng sức để thoát khỏi những gì
    đang gài bẫy họ. Ma quỷ là cách nói về một điều gì đó ngăn cản đường đi
    của con người trong cuộc đời, làm cho những lời cầu xin bị mất tác dụng,
    người ta cảm thấy bị cản trở, bị bao vây và bế tắc. Trong tiếng Hebrew,
    Satan có nghĩa là “kẻ địch”, còn tiếng Hy Lạp diabolos có nghĩa là “một
    người đã ném một thứ gì đó chắn ngang đường”. Ở Ấn Độ, Đức Phật gọi ma
    quỷ là Mara, nghĩa là “kẻ sát nhân”.
    Trong bài diễn thuyết đầu tiên có tựa đề “Cuộc đấu tranh”, thái tử Gotama
    (tức Đức Phật) nhớ lại: “Tôi ngồi bên bờ sông Neranjara, bắt đầu một trận
    chiến miệt mài, thực hành suy ngẫm bằng tất cả sức mạnh trong nỗ lực tìm
    kiếm sự tự do. Rồi kẻ sát nhân Mara đến cạnh tôi và nói những câu đầy vẻ
    thiện cảm: “Ngài trông xanh xao, yếu ớt quá!”, nó tiếp: “Ngài nên chết đi.
    Điều đó có lẽ còn tốt hơn sống rất nhiều. Ngài có thể làm thêm nhiều điều tốt
    bằng một cuộc sống thiêng liêng”.
    Xem ra ma quỷ đã chạm đến những vấn đề quan tâm nhất trong tâm hồn Đức
    Phật. Từ cái nhìn đầu tiên, những gì nó nói đều có vẻ hợp lý. Mara đã làm
    nản lòng cuộc sống khổ hạnh của Đức Phật và ca tụng một cuộc sống cống
    hiến cho những điều tốt trên thế gian. Nó không khích lệ thái tử Gotama làm
    bất cứ điều gì tội lỗi. Mục đích của nó là làm suy yếu lòng quyết tâm được tự
    do thoát khỏi sự chỉ đạo mang tính cưỡng bức, nhằm gài bẫy Ngài vướng
    vào vòng thống khổ.
    Trong khi nói chuyện với thái tử Gotama, Mara “đứng ngay bên cạnh Đức
    Phật”. Con quỷ bóng gió đưa đẩy bản thân mình bằng cách thức như vậy, cứ
    như nó đã trở thành một phần trong suy nghĩ của Ngài. Nhưng Đức Phật đã
    nhận ra điều đó và nói:
    Ta đã nhìn thấy tất cả những chiếc bẫy của ngươi ở quanh ta Mara ạ, nhưng
    ta vẫn tiếp tục đấu tranh. Cho dù cả thế giới không thể đánh bại binh lính của
    ngươi thì ta cũng sẽ phá hủy nó bằng sức mạnh của sự khôn ngoan như thể
    nó là một chiếc bình không được nung bị đập vỡ bằng một hòn đá.
    Để thể hiện uy lực của quỷ dữ, người ta đã miêu tả Mara như một vị thần

    chiến tranh cưỡi voi đang chỉ huy đội quân đông vô kể. Đức Phật đã không
    coi “sức mạnh của Mara mạnh mẽ hơn bất cứ sức mạnh nào không thể khuất
    phục được”. Ngài gọi binh lính dưới sự chỉ huy của Mara là lòng ham muốn
    khoái lạc, sự bất mãn, đói khát, lòng tham, tính thờ ơ, lo sợ, nghi ngờ, tính
    liên tục, khao khát chiếm đoạt, kiêu căng, danh dự và tiếng tăm, tán dương
    người này trong khi gièm pha, coi thường người khác.
    Việc gắn bó chặt chẽ với lòng khao khát hoặc nỗi sợ hãi đã siết chặt điểm
    nút kết nối con người với nó, và do đó có thể gây ảnh hưởng đến họ. Chỉ khi
    nào Đức Phật biết được những ước muốn và những sợ hãi đang đe dọa Ngài
    chẳng là gì ngoài trạng thái phù du của tâm hồn và thể xác, chúng mới mất
    khả năng thôi miên Ngài. Thay vì xem chúng như sức mạnh của một kẻ địch
    có ý định hủy diệt mình t...
     
    Gửi ý kiến

    KÍNH CHÀO QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ GHÉ TƯỜNG WEBSITE THƯ VIỆN THCS ĐOÀN KẾT!