Suy ngẫm thiện và ác

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Thanh
Ngày gửi: 10h:40' 29-03-2024
Dung lượng: 955.6 KB
Số lượt tải: 0
Người gửi: Nguyễn Thị Thanh
Ngày gửi: 10h:40' 29-03-2024
Dung lượng: 955.6 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Thông tin sách
Tên sách: SUY NGẪM VỀ THIỆN VÀ ÁC
Nguyên tác: Living with the Devil
Tác giả: Stephen Batchelor
Người dịch: Nguyễn Kim Dân
Nhà phát hành: Văn Lang
Nhà xuất bản: NXB Lao Động
Khối lượng: 200g
Kích thước: 13.5 x 21 cm
Ngày phát hành: 07/2011
Số trang: 184
Giá bìa: 40.000đ
Thể loại: Tôn giáo
Thông tin ebook
Nguồn: Tve-4u
Thực hiện ebook: thanhbt
Ngày hoàn thành: 06/02/2017
Dự án ebook #285 thuộc Tủ sách BOOKBT
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Giới thiệu
Học giả Phật giáo Tây Tạng, Stephen Batchelor đã mang đến cho chúng ta
cái nhìn thấu suốt về cuộc đấu tranh giữa thiện và ác, giữa ánh sáng và bóng
tối qua ẩn dụ về chiến thắng của Đức Phật với quỷ Mara, Chúa Giê-su với
quỷ Satan... Đây cũng chính là cuộc đấu tranh không ngừng của con người
để vươn tới Chân Thiện Mỹ, dù ở Phương Đông hay Phương Tây.
Đây là cuốn sách dành cho những người giống như tôi, thấy bản thân mình
đang sống giữa những câu chuyện hoang đường khác nhau và có lúc xung
đột nhau - những câu chuyện mang tính sử thi giúp chúng ta cảm nhận về
cuộc sống ngắn ngủi trên trái đất. Một số câu chuyện hoang đường bắt nguồn
từ những khoảng thời gian và không gian xa xưa, trong khi một số câu
chuyện khác lại là sản phẩm của thế giới hiện đại.
Cho dù những câu chuyện hoang đường mà chúng ta kế thừa từ quá khứ phát
xuất từ một tôn giáo theo thuyết nhất thần, chẳng hạn Do Thái giáo hay Cơ
Đốc giáo, hoặc xuất phát từ một truyền thống vô thần, chẳng hạn như Phật
giáo, thì chúng vẫn có cùng quan điểm cho rằng cuộc sống của con người chỉ
là một phần của cái mênh mông rộng lớn vượt quá sức của nó. Cả hai đều tin
vào những thế lực giấu mặt đang hoạt động - cho dù là thế lực của Thượng
Đế hay nghiệp chướng - thì nó cũng đã ném chúng ta vào thế giới này để đối
mặt với một nhiệm vụ khó khăn là cứu rỗi bản thân để đạt đến sự bất diệt.
Những câu chuyện hoang đường của thời hiện đại hết sức gần gũi, khó có
thể nhận ra chúng có phải là những câu chuyện hoang đường hay không.
Ngay cả những người sống trong xã hội cận đại theo Phật giáo hay Cơ Đốc
giáo cũng không coi sự hiểu biết của mình về thế giới là mang tính hoang
đường, và chúng ta cũng không thể coi những câu chuyện hoang đường là cơ
sở để phán đoán xem chúng ta là ai và loại vũ trụ mà chúng ta đang cư trú là
gì. Một câu chuyện hoang đường có ảnh hưởng lớn trong thời hiện đại đã
phổ biến ở phương Tây trong hai thế kỷ qua, dựa trên những hiểu biết mang
tính khoa học về thế giới. Người ta cho rằng đó là nguồn gốc đầy thuyết
phục về vũ trụ và đời sống tri giác, đó là lời giải thích và tiên đoán về sức
mạnh vô cùng của vũ trụ, đó là những kỹ thuật có thể tạo nên ấn tượng sâu
sắc bởi sự hiểu biết của nó về thế giới vật chất, do đó chúng ta không chấp
nhận bất cứ điều gì mang tính hoang đường về nó.
Lời tựa
Tôi không biết ai đã đặt tôi vào thế giới này, không biết thế giới này là gì,
cũng không rõ bản thân mình là ai? Tôi đang thật sự thờ ơ với tất cả mọi thứ,
tôi không biết thân xác, cảm nhận, linh hồn của tôi là gì, thậm chí không biết
các bộ phận trong cơ thể nghĩ gì về những điều tôi nói, tôi nhận ra bản thân
mình và tất cả mọi thứ nhưng lại không biết rõ bản thân mình bằng những
thứ khác. Tôi nhìn thấy những khoảng không đáng sợ của vũ trụ đang bao
bọc quanh mình, tôi thấy mình được gắn vào một góc nào đó của dải đất này
nhưng không biết lý do tại sao mình lại được đặt ở đó mà không đặt ở một
nơi nào khác, hoặc lý do tại sao cuộc đời được định sẵn của tôi cần phải
được quy định ở giây phút này thay vì ở giây phút khác trong tất cả thời gian
vô tận đã đi trước và sẽ theo sau tôi. Tôi chỉ thấy tính vô cùng tận trong tất
cả mọi khía cạnh, bao bọc quanh tôi như một quả bom nguyên tử hay một
chiếc bóng tan biến đi trong một thoáng...
Blaise Pascal
Mục lục
Phần 1: THƯỢNG ĐẾ THỜI NAY
Chương 1: NHỮNG CÂU CHUYỆN HOANG ĐƯỜNG
Chương 2: NHU CẦU NÀY ĐÃ KHÔNG XẢY RA
Chương 3: MARA - KẺ SÁT NHÂN
Chương 4: SATAN - ĐỐI THỦ
Chương 5: BUỒN CHÁN VÀ BẠO LỰC
Phần 2: TẠO RA CON ĐƯỜNG
Chương 6: SỢ HÃI VÀ RUN RẨY
Chương 7: VÒNG TRÒN MA QUỶ
Chương 8: MA QUỶ TRÊN ĐƯỜNG ĐI
Chương 9: KHOẢNG KHÔNG TRỐNG RỖNG
Chương 10: TỪ CÓ NHÀ ĐẾN KHÔNG NHÀ
Chương 11: ĐIỀU NÀY LÀ GÌ?
Chương 12: ĐIỀU BÍ ẨN CỦA THẾ GIỚI
Chương 13: TRỞ NÊN Ý THỨC
Chương 14: CƠ THỂ NÀY ĐANG THỞ
Chương 15: HỌC CÁCH CHỜ ĐỢI
Phần 3: SỐNG VỚI MA QUỶ
Chương 16: CUỘC SỐNG CỦA MỘT NGƯỜI BÌNH
THƯỜNG
Chương 17: “ĐỪNG LÀM TỔN THƯƠNG TÔI”
Chương 18: NỖI ĐAU KHỔ CỦA NGƯỜI KHÁC
Chương 19: SỰ HÓA THÂN
Chương 20: VĂN HÓA CỦA HÀNH VI NHẬN THỨC
Chương 21: VƯƠNG QUỐC CỦA MARA
Chương 22: NGHE TIẾNG KHÓC
Chương 23: TÌNH TRẠNG HỖN LOẠN CỦA CÁC KHOẢNG
TRỐNG
Về tác giả
Phần 1: THƯỢNG ĐẾ THỜI NAY
Chương 1: NHỮNG CÂU CHUYỆN HOANG ĐƯỜNG
Đây là cuốn sách dành cho những người giống như tôi, thấy bản thân mình
đang sống giữa những câu chuyện hoang đường khác nhau và có lúc xung
đột nhau - những câu chuyện mang tính sử thi giúp chúng ta cảm nhận về
cuộc sống ngắn ngủi trên trái đất. Một số câu chuyện hoang đường bắt nguồn
từ những khoảng thời gian và không gian xa xưa, trong khi một số câu
chuyện khác lại là sản phẩm của thế giới hiện đại.
Cho dù những câu chuyện hoang đường mà chúng ta kế thừa từ quá khứ phát
xuất từ một tôn giáo theo thuyết nhất thần, chẳng hạn Do Thái giáo hay Cơ
Đốc giáo, hoặc xuất phát từ một truyền thống vô thần, chẳng hạn như Phật
giáo, thì chúng vẫn có cùng quan điểm cho rằng cuộc sống của con người chỉ
là một phần của cái mênh mông rộng lớn vượt quá sức của nó. Cả hai đều tin
vào những thế lực giấu mặt đang hoạt động - cho dù là thế lực của Thượng
Đế hay nghiệp chướng - thì nó cũng đã ném chúng ta vào thế giới này để đối
mặt với một nhiệm vụ khó khăn là cứu rỗi bản thân để đạt đến sự bất diệt.
Những câu chuyện hoang đường của thời hiện đại hết sức gần gũi, khó có
thể nhận ra chúng có phải là những câu chuyện hoang đường hay không.
Ngay cả những người sống trong xã hội cận đại theo Phật giáo hay Cơ Đốc
giáo cũng không coi sự hiểu biết của mình về thế giới là mang tính hoang
đường, và chúng ta cũng không thể coi những câu chuyện hoang đường là cơ
sở để phán đoán xem chúng ta là ai và loại vũ trụ mà chúng ta đang cư trú là
gì. Một câu chuyện hoang đường có ảnh hưởng lớn trong thời hiện đại đã
phổ biến ở phương Tây trong hai thế kỷ qua, dựa trên những hiểu biết mang
tính khoa học về thế giới. Người ta cho rằng đó là nguồn gốc đầy thuyết
phục về vũ trụ và đời sống tri giác, đó là lời giải thích và tiên đoán về sức
mạnh vô cùng của vũ trụ, đó là những kỹ thuật có thể tạo nên ấn tượng sâu
sắc bởi sự hiểu biết của nó về thế giới vật chất, do đó chúng ta không chấp
nhận bất cứ điều gì mang tính hoang đường về nó.
Cho dù những điều chúng ta tin có thể được xác minh bằng kinh nghiệm thì
cũng không thay đổi được bản chất của nó là một câu chuyện hoang đường.
Bất kể thế giới khoa học hiện đại “đúng đắn” đến đâu thì câu chuyện hoang
đường vẫn đóng một vai trò quan trọng trong cuộc sống ngày nay, tương tự,
thế giới quan tiền khoa học cũng đã từng đóng vai trò quan trọng trong nền
văn hóa tiền hiện đại. Vì nó giải thích quá rõ cuộc sống của loài người chỉ là
một phần trong cái mênh mông rộng lớn vượt quá sức của mình. Nó còn
được duy trì bởi những niềm tin. Chúng ta tin rằng vũ trụ đã hoàn toàn nổ
tung cách nay 15 tỷ năm; chúng ta tin rằng loài người tiến hóa bởi sự chọn
lọc ngẫu nhiên của đột biến gien di truyền từ những dạng thức nguyên thủy
sơ khai của cuộc sống; chúng ta tin vào sự tồn tại của điện tử và các hạt vi
lượng. Nhưng liệu chúng ta có thể chứng minh sự thật về bất cứ loại hạt nào
trong số này khi có kẻ không tin tưởng vào chúng không?
Sự hiểu biết của con người luôn bị hạn chế và mang tính cục bộ. Điều duy
nhất thực sự đúng đối với bất cứ ai, cho dù thông minh và được thông tin tốt
cỡ nào, là có thể đòi hỏi được biết một cách hợp lý về tính chắc chắn. Bất cứ
điều gì anh ta biết nhất thiết phải thông qua những công cụ, cảm xúc, lý trí
và trí tuệ của anh ta. Điều không thể đối với anh ta là phải sử dụng một quan
điểm thuận lợi không được sắp đặt sẵn, độc lập với những công cụ và tách
biệt với cơ thể khi anh ta kiểm tra xem kiến thức có sẵn của mình có đáp ứng
thực tế như vậy hay không? Cho dù điều này có thể được giải thích rõ ràng,
thực tế vẫn giữ nguyên bản chất bí ẩn của nó. Còn những vấn đề lớn lao đầy
ý nghĩa như sinh ra và chết đi, làm điều thiện và điều ác..., thì các ngành
khoa học tự nhiên vẫn chưa hé lộ.
Nhưng những câu chuyện hoang đường mà tổ tiên xưa truyền lại vẫn tiếp tục
hiện diện. Chúng ta tiếp tục rút ra từ chúng câu trả lời cho những vấn đề của
mình. Những người công khai theo thuyết vô thần và chủ nghĩa vật chất đều
cảm thấy khó chịu bởi những trích đoạn trong Kinh Thánh. Một người cải
tâm sang đạo Phật nhưng lại cảm nhận được cảm giác thiêng liêng gần gũi
trong một nhà thờ đổ nát ở vùng quê nước Anh hơn là trong những thiền
viện mà bà đã từng đến ở Tây Tạng. Vậy trong những giây phút tuyệt vọng,
ai có thể kêu gọi được sự giúp đỡ của Đấng tối cao mà họ đã từ bỏ?
Là một người phương Tây theo đạo Phật từ 30 năm qua, tôi đã nhận ra
những câu chuyện hoang đường tồn tại song song trong tôi và đang lôi kéo
sự chú ý của tôi. Tôi không theo đạo Cơ Đốc nhưng tôi nhận ra mình đã bị
tiêm nhiễm bởi những câu chuyện hoang đường và những giáo lý Cơ Đốc
của kỷ nguyên hậu Cơ Đốc giáo, môi trường đầy tính nhân bản tự do bao bọc
quanh tôi. Tạm thời, tôi thiên về nghệ thuật hơn là khoa học, nhưng tôi cảm
kích trước một thế giới quan mang tính khoa học đang phát triển, thông tin
về một xã hội mà tôi là một phần tử trong đó. Tôi đã cống hiến cả cuộc đời
mình cho việc dịch những bản văn về Phật giáo, những lời giáo huấn về sự
suy ngẫm và triết lý nhà Phật, đồng thời viết những cuốn sách giải thích về
đạo Phật đương đại. Khi cố gắng tìm hiểu và kết nối những bài giảng cùng
những câu chuyện hoang đường về đức tin của mình, tôi liên tục nhận ra
những tiếng nói khác tương tự như suy nghĩ của tôi.
Trọng tâm hành vi nhận thức của Đức Phật nằm trong sự nhận biết phản trực
giác về cảm nhận của con người theo một hình thức hoàn toàn ngẫu nhiên,
không chắc chắn và nhất thời. Bằng việc cố gắng tập trung sự chú ý và
không lệ thuộc vào cuộc sống khi nó bộc lộ bên trong và chung quanh mình,
thái tử Tất Đạt Đa (theo lịch sử của Đức Phật) đã nhận thấy rằng không có
bản chất cơ bản nào có thể đứng vững, nó phải đứng lùi lại và xem xét sự
tích hợp của màu sắc, hình dáng, âm thanh, cảm giác, suy nghĩ, cảm nhận đã
nảy sinh và biến mất trong từng giai đoạn của ý thức. Sự nhận thức sâu sắc
đáng kinh ngạc này đã làm Ngài hết sức xúc động về những gì Ngài cảm
thấy đó là bản thân mình. Sức thuyết phục mang tính bản năng của một sinh
vật đại diện cho cái “tôi” biệt lập và không thay đổi đã bị sụp đổ. Cuộc sống
đúng là một chuỗi những diễn biến ngẫu nhiên mang tính thăm dò đáng kinh
ngạc, đưa con người vào một chuỗi những nguyên nhân và kết quả phức tạp,
nhưng không có sự khởi đầu rõ rệt và không có sức mạnh thiêng liêng bí ẩn
nào hướng dẫn chúng đi đến một kết thúc được định trước.
Thái tử Tất Đạt Đa thấy rằng việc phát hiện về vô ngã và thực tế vô thần
giúp mình cảm nhận tự do một cách sâu sắc. Ngài được tự do thoát khỏi
những thôi thúc cùng nỗi sợ hãi của một người tự cho mình là quan trọng,
điều từng làm Ngài vướng vào một vòng xoáy vô tận của sự nhàm chán và
khổ não. Ngài muốn nhắc đến sự tự do như là “cõi Niết bàn” - nghĩa đen là
“việc thổi bay” những “đốm lửa” của sự bất bình, liên quan đến sự tồn tại
của con người. Ở một khía cạnh khác, Ngài nói về điều này với nghĩa là “hư
không”: là một không gian mở mà ở đó, ý tưởng trở thành một bản chất cô
lập và bất diệt đã không còn khả năng làm vướng bận một ai. Hư không này
là “nơi ở của một con người vĩ đại”, nơi người ta có thể đối đầu và đáp trả
thế giới bằng một cái nhìn vị tha nhưng đầy cảnh giác.
Một khoảng hư không không tìm thấy ý nghĩa và giá trị chính là sự đối lập
với những gì Đức Phật muốn nói đến dưới dạng một “hư vô”. Đối với Ngài,
sự hiểu biết về hư không đã biến cái vòng ám ảnh về những nỗi sợ hãi và
lòng khao khát thành sự khôn ngoan và chu đáo, nhằm đề cao tính tự do và
sự đáp ứng nhiệt tình bên trong. Thay cho sự thiếu vắng ý nghĩa và giá trị, là
sự thiếu vắng những hạn chế và kìm hãm năng lực của một người nhằm nhận
biết cuộc đời con người có khả năng trở thành cái gì.
Khi hư không được đề cập như một khía cạnh tinh tế của hiện thực hay một
tình trạng mang tính hoang đường của tinh thần, thì nó vẫn có nguy cơ được
tôn sùng quá đáng như một đối tượng tôn giáo có đặc quyền khác.
Nagarjuna, nhà tư tưởng vĩ đại của Ấn Độ thế kỷ II đã nhận thức một cách
sâu sắc về hiểm họa này:
Đức Phật nói hư không
Là đang buông trôi những quan điểm
Những tín đồ đang chìm trong cõi hư không
Là những kẻ bất trị
Hư không phải là điều thiêng liêng có thể tin tưởng được. Đó là một sự gột
rửa: bỏ qua những giáo điều từng trói buộc con người vào lớp vỏ cứng chắc
của bản thân, nhưng dường như lại tồn tại trong trạng thái tách rời khỏi
những rắc rối của cuộc sống. Hành vi gột rửa này dẫn tới việc phá bỏ những
định kiến hà khắc và gây trở ngại cho tinh thần - giống như một rào chắn bắc
ngang con sông - để cho dòng cuộc sống bị kìm nén được tự do chảy đi...
Việc từ bỏ, cho dù tạm thời và không cố ý này sẽ không bôi xóa bạn, mà sẽ
mở ra trước mắt bạn một thế giới phù du và đầy tính ngẫu nhiên để bạn cùng
chia sẻ với những tạo vật đầy lo lắng khác giống bạn. Điều này có thể rất
khủng khiếp vì chắc chắn trong một thế giới như vậy, đến một lúc nào đó,
bạn sẽ chết. Bạn nhận thấy bản thân mình không phải là một thứ ổn định hay
mang bản chất riêng biệt, mà chỉ là một câu chuyện phức tạp, mang tính
thăm dò, đang vội vã đi đến kết luận. Điều này có thể thúc giục bạn gấp rút
quay trở lại với nhận thức, niềm tin cùng những thói quen làm bạn cảm thấy
an toàn. Nhưng khi hành vi trút bỏ đã bắt đầu thì việc bám víu vào những
niềm an ủi sẽ cản trở bạn cảm nhận một cuộc sống an toàn. Để trở về trạng
thái hư không, như Nagarjuna đã khẳng định, bạn phải đối mặt với điều ngẫu
nhiên bất kỳ, không được chọn lọc trong cuộc sống. Thách thức của trạng
thái hư không là lao vào dòng chảy xiết của cuộc sống thay vì lảng vảng
ngập ngừng trên bờ vực ...
“Điều ngẫu nhiên”, là sự diễn dịch ngắn gọn và chính xác về khái niệm
paticcasamuppada của nhà Phật (thường được diễn tả như “sự bắt nguồn phụ
thuộc”). Bất cứ điều gì ngẫu nhiên đều phụ thuộc vào một thứ khác vì sự tồn
tại của mình. Chúng ta tạo nên những kế hoạch “ngẫu nhiên” vì cuộc sống
đầy những điều bất ngờ, và bất kể sự chuẩn bị của chúng ta ra sao thì mọi
thứ cũng thường không xảy ra như đã định. Tính phức tạp của các phương
thức sống làm con người khó có thể nhìn thấy trước một hệ thống đã cho (có
thể là một người hay một vật) sẽ cư xử như thế nào trong giai đoạn kế tiếp,
hay bị bỏ mặc một mình như thế nào trong tháng hoặc năm kế tiếp. Điều
ngẫu nhiên bộc lộ tình trạng tự do hỗn loạn ngay trung tâm của những sự
việc được sắp xếp theo thuyết nhân quả. Tuy nhiên, muốn nhờ đến bàn tay
của Thượng đế, nghiệp chướng hay số mệnh để truyền một mệnh lệnh bí mật
cho điều ngẫu nhiên, đòi hỏi con người phải có thiện chí để chấp nhận khả
năng không thể loại trừ và không thể đoán trước được, thay vì đạt tới trạng
thái thoải mái, dễ chịu của lý thuyết suông.
Trái với “điều ngẫu nhiên” là “tính cần thiết”. Bất kể nhận thức về cuộc đời
tầm thường và chóng tàn như thế nào thì tôi cũng không thể rũ bỏ sự thuyết
phục mang tính trực giác từ trong tâm hồn, sự tồn tại của tôi là cần thiết
trong việc hoạch định mọi thứ. Bằng việc tập trung sự chú ý cao độ vào bản
chất ngẫu nhiên của cảm nhận, việc thực hành suy ngẫm của đạo Phật sẽ
thách thức cảm giác bản năng của chúng ta, theo cách nói về Satan của
Milton là “Tự mình sinh ra, tự mình nổi lên/Bằng sức mạnh ngày càng lớn
của riêng mình”. Sự nhận thức sâu sắc về trạng thái hư vô của bản thân sẽ
đạt được không chỉ qua việc loại bỏ bản thân mà còn qua việc tìm hiểu xem
nó là ngẫu nhiên hay cần thiết.
Khi bản tính ngoan cường, cứng cỏi của các bản chất và sự vật thiết yếu bị
phá hủy trong bối cảnh của trạng thái hư vô thì một thế giới ngẫu nhiên sẽ
mở ra những điều mơ hồ và hay thay đổi, mê hoặc và khủng khiếp. Không
những thế giới này bộc lộ trước chúng ta vẻ uy nghi, khôn khéo và phức tạp
một cách đáng sợ, mà một ngày nào đó, nó sẽ nuốt chửng chúng ta trong làn
ranh hỗn độn của nó cùng với tất cả những thứ khác mà chúng ta yêu thích.
Vẻ đẹp sâu sắc của sự sáng tạo không thể tách khỏi tính chất hủy diệt tàn bạo
của nó. Làm thế nào để sống trong một thế giới hỗn độn với sự khôn ngoan,
khoan dung, chân thành, chu đáo và không có bạo lực chính là những gì mà
các vị thánh cùng những triết gia đã cố gắng làm sáng tỏ trong nhiều thế kỷ
qua. Đó cũng chính là những gì mà Phật giáo đang cố gắng đạt được thay vì
thừa nhận bản chất bất tử hay siêu việt, nằm ngoài sự thăng trầm của thế
giới. Đức Phật luôn cho rằng sự cứu rỗi nằm trong hành vi tháo bỏ những ý
nghĩ kỳ quặc và thay vào đó là nắm lấy cuộc sống trần tục muốn phá hủy
bạn.
Cuốn sách này là sự suy ngẫm về một số vấn đề lâu đời. Trong đó nhiều nhất
là giải thích về những câu chuyện hoang đường, những học thuyết, triết lý và
thực hành của nhà Phật. Tuy nhiên khi người nào đó thấy bản thân mình
đang cư trú tại kẽ hở giữa những nền văn hóa và truyền thống, thì những ý
tưởng về đạo Phật sẽ được đặt gần nhau và được đan xen vào nhau bằng
những chất liệu lấy từ những nguồn khác như Kinh Thánh, thơ của
Baudelaire, Roland Barthes và thuyết sinh học tiến hóa. Mặc dù tôi trích dẫn
những bản kinh theo thuyết nhất thần nhưng tôi không tin vào Thượng đế
nhiều hơn việc tôi tin vào Hamlet. Điều này không có nghĩa là Thượng đế
cũng như Hamlet đều không có gì đáng nói. Những trang sách tập trung vào
những nhân vật mang tính hoang đường và lịch sử, bắt nguồn từ những
truyền thống, phong tục khác nhau. Con đường tôi đi men theo kẽ hở giữa
những tôn giáo cùng những câu chuyện hoang đường lâu đời giúp tôi cảm
nhận về cuộc sống. Càng tiến xa hơn, tôi càng nghi ngờ con đường này
không có gì ngoài những kẽ hở hỗn độn của bản thân chúng.
Chương 2: NHU CẦU NÀY ĐÃ KHÔNG XẢY RA
Mẹ đã tình cờ xóa bỏ lòng tin về sự tồn tại của tôi là cần thiết khi tôi 16 tuổi.
Đó là vào ngày lễ Giáng Sinh.
Bà và cô em gái đang xem lướt qua những tấm ảnh nằm trên bàn bếp. Đó là
những bức ảnh chụp một người đàn ông mặc quân phục - mắt nheo lại dưới
ánh nắng mặt trời sa mạc, miệng ngậm cán tẩu. Mẹ nói: “Nếu tất cả mọi thứ
xảy ra khác đi thì ông ta đã có thể là cha con”. Tôi nghĩ: “Nếu ông ấy là cha
tôi thì tôi có còn là tôi không?”.
Cái nhìn thoáng qua của tuổi mới lớn về điều ngẫu nhiên đã bất ngờ ám ảnh
tôi. Cho dù sự thuyết phục theo trực giác nói rằng sự hiện diện của tôi trong
thế giới này có chút gì đó cần thiết, thì khả năng không chắc chắn và đáng lo
ngại mà tôi không cần đến vẫn đang gặm nhắm. Bỏ qua sự chọn lựa của mẹ
tôi đối với những người theo đuổi bà, có phải thực sự còn có vô số tinh trùng
của một người cha khác được cấy vào tử cung của mẹ tôi không? Có phải
đứa trẻ được sinh ra từ sự pha trộn các nhiễm sắc thể như vậy là tôi không?
Hoặc nếu có một loại tinh trùng tương tự đã tìm ra nơi trú ẩn trong chu kỳ
rụng trứng kế tiếp của mẹ tôi, có phải đứa bé đó là tôi không?
Hoặc nếu khẩu súng của cảnh sát đã bắn chết Erwin von Scheubner - Richter
vào ngày 9 tháng 11 năm 1923 lệch góc sang phải một chút thì có phải nó đã
bắn trúng Adolf Hitler không? Nếu Hitler chết, mẹ tôi và người đàn ông mà
bà dự định kết hôn có phải đã không gặp nhau ở hoang mạc Bắc Phi không?
Giống như vậy, tấm ảnh tương tự cũng đã được góp nhặt bằng những cách
thức không thể đoán trước được trong vô số hoàn cảnh, lựa chọn và sự việc,
dẫn dắt bà đến gặp người cha thực sự của tôi vài năm sau đó.
Là một trong số 6 tỷ con người đang lo lắng, tôi nhấn mạnh sự không thể khi
dành ra hơn 27 năm trên hành tinh này để lật đổ niềm tin vững chắc trong
thâm tâm cho rằng tôi là một linh hồn độc lập và vĩnh cửu. Tuy nhiên, khi
nào tôi còn có thể nhớ được, điều này cũng tương tự như tôi đã nhìn một
cách thành thật và chăm chú vào thế giới của mọi vật và mọi người, tránh xa
cái tổ chim đơn độc được che giấu bên trong xác thịt này. Con người mà câu
chuyện của ông ta bắt đầu bằng việc nhớ lại khi ngồi trong lòng một người
phụ nữ, nép mình vào những nếp áo choàng lông thú của bà, chăm chú nhìn
qua cửa sổ máy bay nhìn xuống những ngôi nhà cùng những chiếc xe hơi
nhỏ xíu của thành phố Toronto, dường như đã trở thành một con người thực
sự mà giờ đây đang viết những dòng chữ này.
Bằng cách thức trừu tượng và không hiệu quả, tôi biết điều này không thể là
sự thực. Vì tôi đã lớn lên và thay đổi. Tôi không còn nhận định được đó là
thể xác 3 tuổi hay trí óc 30 tuổi của mình. Về mặt thể chất, cảm xúc và tinh
thần, tôi đã trở thành một người khác. Nhưng tôi không thể chịu được cảm
giác mình vẫn là người từng ngọ nguậy những ngón tay mũm mĩm và bộc lộ
niềm vui thích trẻ thơ. Ngay khi tôi hướng sự chú ý của mình vào con người
thực sự này thì anh ta lại trườn người đi. Anh ta biến mất.
Tôi không chọn có mặt ở đây, nhưng giờ đây tôi không thể chấp nhận được ý
nghĩ mình không tồn tại. Tuy có một cảm nhận nào đó về tính cần thiết trong
sự hiện hữu của mình, nhưng điều chắc chắn duy nhất mà tôi phải đối mặt là
con người có vẻ cần thiết đó sẽ bị tàn lụi đi. Trái tim này sẽ ngừng bơm máu,
hai lá phổi này sẽ ngừng việc hút dẫn khí, các tế bào thần kinh này sẽ ngừng
kích thích trí não tôi. Thể xác tôi sẽ thối rữa hoặc bị ngọn lửa thiêu rụi và
theo thời gian, tôi chỉ còn sống lay lất như những sợi chỉ mỏng manh, như
một ký ức trong trí nhớ nhạt nhòa của những người đã có dịp gặp tôi. Và khi
những sợi chỉ này biến mất, chỉ còn những tấm ảnh cùng những dấu vết mà
tôi để lại trên báo chí và đĩa vi tính. Rồi chẳng bao lâu, những dấu vết này
cũng sẽ trở thành cát bụi.
Tôi né tránh những ý nghĩ đó bằng việc tập trung hoàn thành những công
việc bận bịu trong ngày. Hay nói cách khác, sự thôi thúc bản năng để tồn tại
đã giúp tôi tập trung vào công việc này. Vì ngay cả khi ngừng suy ngẫm về
tính ngẫu nhiên và nhất thời của sự tồn tại, tôi thấy bản thân mình liên tục bị
giằng xé bởi những ý nghĩ và cảm giác khác đang đòi được chú ý. Tôi không
muốn thoát khỏi sự suy tư sâu lắng nhưng tôi thấy khó có thể ngăn được sự
thôi thúc đó đi đến một nơi nào khác. Những lúc như vậy, toàn bộ cơ thể tôi
là đối tượng của những sự thôi thúc mà tôi chỉ vừa vặn kiểm soát được. Bất
chấp điều đó, tôi đã rút khỏi sự nhận thức về tính thay đổi liên tục của cuộc
sống và trở về với lớp vỏ của mối bận tâm: lo nghĩ về bản thân mình.
Khi Dante bước vào tầng thứ chín và là tầng cuối cùng của địa ngục, ông
thấy mình đứng bên lề của một tảng băng khổng lồ. Ông ta tránh một cơn gió
tối tăm, lạnh lẽo và phát hiện ra Satan đã nhận chìm lồng ngực mình vào
tảng băng, vỗ mạnh sáu chiếc cánh giống như cánh dơi. Trái với những tầng
địa ngục bắt lửa bên trên, nơi những linh hồn phải chịu sự tra khảo tàn bạo
dựa trên tội lỗi, thì ở đây “vua của tất cả những tai họa” đã bị đông cứng lại
và bị sập bẫy. Tương tự, nỗi lo sợ không ngừng cùng cảm giác khao khát
trong tôi như được điều khiển bởi một bản chất tàn bạo dường như đã bị
đông cứng lại. Đây là nơi sự chối bỏ điều ngẫu nhiên bất ngờ của cuộc sống
và sự khẳng định tính cần thiết của riêng tôi được cảm nhận mạnh mẽ nhất.
Sự tấn công bất ngờ của Dante vào địa ngục cho thấy càng đến gần trái tim
của người bị mê muội thì bạn càng bị tước đi ánh sáng và sự nóng ấm. Bạn
cảm thấy xa lạ và tuyệt vọng. Địa ngục là một cách nói ẩn dụ về cảnh hoang
tàn hiu quạnh ấy.
Nhưng ma quỷ chỉ là một cách tượng trưng, miêu tả một phản ứng có tính
cưỡng bức đối với thế giới ngẫu nhiên để đi vào nơi chúng ta bị ném vào từ
lúc mới sinh. Có điều gì đó thật mãnh liệt về bản thân thế giới ngẫu nhiên.
Đây là nơi những điều chúng ta không muốn xảy ra đã xảy ra. Tiếng bánh xe
nghiến xào xạo trên băng tuyết và quẹo ra khỏi con đường để chui vào
những lùm cây thay vì đi tới điểm đến của chúng. Lũ lụt, bom đạn và động
đất đã nhanh chóng phá hủy những gì do lao động tạo ra. Lúc tôi cảm thấy bị
bao vây mọi phía: bên trong thì thôi thúc làm thế nào để tồn tại, bên ngoài thì
bị khống chế, lấn át bởi thảm kịch của một thế giới đau khổ. Cho dù tôi đã
lựa chọn làm điều tốt một cách chân thành và nhiệt tình thì tôi vẫn tiếp tục
làm điều ngược lại. Tôi nói về những giá trị được kiểm soát chặt chẽ nhất
nhưng chỉ thấy bản thân mình đang ngày càng phản bội lại chúng. Tôi
nguyện cống hiến cuộc đời mình cho sự phồn vinh, hạnh phúc của người
khác nhưng vẫn cương quyết giữ lại lời cam kết về sự phồn vinh, hạnh phúc
của riêng mình.
Shantideva, tín đồ Phật giáo Ấn Độ thế kỷ VIII đã viết: “Tôi ao ước thoát
khỏi sự đau đớn nhưng vẫn phải xông vào nó; tôi khao khát hạnh phúc
nhưng phải điên cuồng tiêu diệt nó như một kẻ thù”. Hàng ngàn năm sau,
Pascal đã nhận xét: “Chúng ta khao khát chân lý nhưng chỉ thấy bản thân
mình không có gì ngoài những điều không chắc chắn. Chúng ta tìm kiếm
hạnh phúc nhưng chỉ thấy đau khổ và chết chóc”. Những mâu thuẫn như vậy
còn nhiều hơn những sai sót đạo lý thông thường có thể sửa chữa được bằng
nỗi lo của sự trừng phạt hay sự bộc phát nhất thời tính ngay thẳng. Dường
như nó xuất hiện để thêu dệt tấm vải cho chính sự tồn tại.
Thậm chí khi một giọng nói kẻ cả điềm tĩnh nói tôi đang mâu thuẫn với
chính mình bằng việc thỏa mãn một sự cưỡng bức, vậy tại sao tôi lại thấy
quá khó để từ bỏ nó? Điều này giống như có một sức mạnh to lớn đang dẫn
dắt tôi hướng đến một số mệnh lệnh không thể thoái thác. Phần nào trong tôi
bị mê hoặc, như đang mộng du, tuân theo một sức hút đầy đam mê dẫn tới
một cảm nhận mà người ta không thể từ bỏ. Tôi biết nguyên nhân tại sao tôi
không thể làm những gì mình có thể làm nhưng dường như không thể cưỡng
lại được. Cuộc đấu tranh để chống lại sự mê hoặc quyến rũ cũng tương tự
như cuộc đấu tranh chống lại sức lôi kéo của thủy triều. Và những điều khao
khát này là những chiếc bóng mờ nhạt của những gì sâu xa và tăm tối hơn,
cuốn đi sự hiện hữu của chúng ta, nó được gọi là ma quỷ...
Chương 3: MARA - KẺ SÁT NHÂN
Trong các câu chuyện thần thoại, ma quỷ là những kẻ bạo ngược, thích thú
với việc gây đau khổ cho nạn nhân của mình. Sức mạnh bền bỉ của chúng đã
làm cho những người mê muội cảm nhận được tình hình hiện tại và sự tê liệt
tâm lý của mình. Khi bị ma quỷ bắt giữ, người ta cảm thấy ngột ngạt khó
thở, bị đè nén và mệt nhọc như một người gắng sức để thoát khỏi những gì
đang gài bẫy họ. Ma quỷ là cách nói về một điều gì đó ngăn cản đường đi
của con người trong cuộc đời, làm cho những lời cầu xin bị mất tác dụng,
người ta cảm thấy bị cản trở, bị bao vây và bế tắc. Trong tiếng Hebrew,
Satan có nghĩa là “kẻ địch”, còn tiếng Hy Lạp diabolos có nghĩa là “một
người đã ném một thứ gì đó chắn ngang đường”. Ở Ấn Độ, Đức Phật gọi ma
quỷ là Mara, nghĩa là “kẻ sát nhân”.
Trong bài diễn thuyết đầu tiên có tựa đề “Cuộc đấu tranh”, thái tử Gotama
(tức Đức Phật) nhớ lại: “Tôi ngồi bên bờ sông Neranjara, bắt đầu một trận
chiến miệt mài, thực hành suy ngẫm bằng tất cả sức mạnh trong nỗ lực tìm
kiếm sự tự do. Rồi kẻ sát nhân Mara đến cạnh tôi và nói những câu đầy vẻ
thiện cảm: “Ngài trông xanh xao, yếu ớt quá!”, nó tiếp: “Ngài nên chết đi.
Điều đó có lẽ còn tốt hơn sống rất nhiều. Ngài có thể làm thêm nhiều điều tốt
bằng một cuộc sống thiêng liêng”.
Xem ra ma quỷ đã chạm đến những vấn đề quan tâm nhất trong tâm hồn Đức
Phật. Từ cái nhìn đầu tiên, những gì nó nói đều có vẻ hợp lý. Mara đã làm
nản lòng cuộc sống khổ hạnh của Đức Phật và ca tụng một cuộc sống cống
hiến cho những điều tốt trên thế gian. Nó không khích lệ thái tử Gotama làm
bất cứ điều gì tội lỗi. Mục đích của nó là làm suy yếu lòng quyết tâm được tự
do thoát khỏi sự chỉ đạo mang tính cưỡng bức, nhằm gài bẫy Ngài vướng
vào vòng thống khổ.
Trong khi nói chuyện với thái tử Gotama, Mara “đứng ngay bên cạnh Đức
Phật”. Con quỷ bóng gió đưa đẩy bản thân mình bằng cách thức như vậy, cứ
như nó đã trở thành một phần trong suy nghĩ của Ngài. Nhưng Đức Phật đã
nhận ra điều đó và nói:
Ta đã nhìn thấy tất cả những chiếc bẫy của ngươi ở quanh ta Mara ạ, nhưng
ta vẫn tiếp tục đấu tranh. Cho dù cả thế giới không thể đánh bại binh lính của
ngươi thì ta cũng sẽ phá hủy nó bằng sức mạnh của sự khôn ngoan như thể
nó là một chiếc bình không được nung bị đập vỡ bằng một hòn đá.
Để thể hiện uy lực của quỷ dữ, người ta đã miêu tả Mara như một vị thần
chiến tranh cưỡi voi đang chỉ huy đội quân đông vô kể. Đức Phật đã không
coi “sức mạnh của Mara mạnh mẽ hơn bất cứ sức mạnh nào không thể khuất
phục được”. Ngài gọi binh lính dưới sự chỉ huy của Mara là lòng ham muốn
khoái lạc, sự bất mãn, đói khát, lòng tham, tính thờ ơ, lo sợ, nghi ngờ, tính
liên tục, khao khát chiếm đoạt, kiêu căng, danh dự và tiếng tăm, tán dương
người này trong khi gièm pha, coi thường người khác.
Việc gắn bó chặt chẽ với lòng khao khát hoặc nỗi sợ hãi đã siết chặt điểm
nút kết nối con người với nó, và do đó có thể gây ảnh hưởng đến họ. Chỉ khi
nào Đức Phật biết được những ước muốn và những sợ hãi đang đe dọa Ngài
chẳng là gì ngoài trạng thái phù du của tâm hồn và thể xác, chúng mới mất
khả năng thôi miên Ngài. Thay vì xem chúng như sức mạnh của một kẻ địch
có ý định hủy diệt mình t...
Tên sách: SUY NGẪM VỀ THIỆN VÀ ÁC
Nguyên tác: Living with the Devil
Tác giả: Stephen Batchelor
Người dịch: Nguyễn Kim Dân
Nhà phát hành: Văn Lang
Nhà xuất bản: NXB Lao Động
Khối lượng: 200g
Kích thước: 13.5 x 21 cm
Ngày phát hành: 07/2011
Số trang: 184
Giá bìa: 40.000đ
Thể loại: Tôn giáo
Thông tin ebook
Nguồn: Tve-4u
Thực hiện ebook: thanhbt
Ngày hoàn thành: 06/02/2017
Dự án ebook #285 thuộc Tủ sách BOOKBT
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Giới thiệu
Học giả Phật giáo Tây Tạng, Stephen Batchelor đã mang đến cho chúng ta
cái nhìn thấu suốt về cuộc đấu tranh giữa thiện và ác, giữa ánh sáng và bóng
tối qua ẩn dụ về chiến thắng của Đức Phật với quỷ Mara, Chúa Giê-su với
quỷ Satan... Đây cũng chính là cuộc đấu tranh không ngừng của con người
để vươn tới Chân Thiện Mỹ, dù ở Phương Đông hay Phương Tây.
Đây là cuốn sách dành cho những người giống như tôi, thấy bản thân mình
đang sống giữa những câu chuyện hoang đường khác nhau và có lúc xung
đột nhau - những câu chuyện mang tính sử thi giúp chúng ta cảm nhận về
cuộc sống ngắn ngủi trên trái đất. Một số câu chuyện hoang đường bắt nguồn
từ những khoảng thời gian và không gian xa xưa, trong khi một số câu
chuyện khác lại là sản phẩm của thế giới hiện đại.
Cho dù những câu chuyện hoang đường mà chúng ta kế thừa từ quá khứ phát
xuất từ một tôn giáo theo thuyết nhất thần, chẳng hạn Do Thái giáo hay Cơ
Đốc giáo, hoặc xuất phát từ một truyền thống vô thần, chẳng hạn như Phật
giáo, thì chúng vẫn có cùng quan điểm cho rằng cuộc sống của con người chỉ
là một phần của cái mênh mông rộng lớn vượt quá sức của nó. Cả hai đều tin
vào những thế lực giấu mặt đang hoạt động - cho dù là thế lực của Thượng
Đế hay nghiệp chướng - thì nó cũng đã ném chúng ta vào thế giới này để đối
mặt với một nhiệm vụ khó khăn là cứu rỗi bản thân để đạt đến sự bất diệt.
Những câu chuyện hoang đường của thời hiện đại hết sức gần gũi, khó có
thể nhận ra chúng có phải là những câu chuyện hoang đường hay không.
Ngay cả những người sống trong xã hội cận đại theo Phật giáo hay Cơ Đốc
giáo cũng không coi sự hiểu biết của mình về thế giới là mang tính hoang
đường, và chúng ta cũng không thể coi những câu chuyện hoang đường là cơ
sở để phán đoán xem chúng ta là ai và loại vũ trụ mà chúng ta đang cư trú là
gì. Một câu chuyện hoang đường có ảnh hưởng lớn trong thời hiện đại đã
phổ biến ở phương Tây trong hai thế kỷ qua, dựa trên những hiểu biết mang
tính khoa học về thế giới. Người ta cho rằng đó là nguồn gốc đầy thuyết
phục về vũ trụ và đời sống tri giác, đó là lời giải thích và tiên đoán về sức
mạnh vô cùng của vũ trụ, đó là những kỹ thuật có thể tạo nên ấn tượng sâu
sắc bởi sự hiểu biết của nó về thế giới vật chất, do đó chúng ta không chấp
nhận bất cứ điều gì mang tính hoang đường về nó.
Lời tựa
Tôi không biết ai đã đặt tôi vào thế giới này, không biết thế giới này là gì,
cũng không rõ bản thân mình là ai? Tôi đang thật sự thờ ơ với tất cả mọi thứ,
tôi không biết thân xác, cảm nhận, linh hồn của tôi là gì, thậm chí không biết
các bộ phận trong cơ thể nghĩ gì về những điều tôi nói, tôi nhận ra bản thân
mình và tất cả mọi thứ nhưng lại không biết rõ bản thân mình bằng những
thứ khác. Tôi nhìn thấy những khoảng không đáng sợ của vũ trụ đang bao
bọc quanh mình, tôi thấy mình được gắn vào một góc nào đó của dải đất này
nhưng không biết lý do tại sao mình lại được đặt ở đó mà không đặt ở một
nơi nào khác, hoặc lý do tại sao cuộc đời được định sẵn của tôi cần phải
được quy định ở giây phút này thay vì ở giây phút khác trong tất cả thời gian
vô tận đã đi trước và sẽ theo sau tôi. Tôi chỉ thấy tính vô cùng tận trong tất
cả mọi khía cạnh, bao bọc quanh tôi như một quả bom nguyên tử hay một
chiếc bóng tan biến đi trong một thoáng...
Blaise Pascal
Mục lục
Phần 1: THƯỢNG ĐẾ THỜI NAY
Chương 1: NHỮNG CÂU CHUYỆN HOANG ĐƯỜNG
Chương 2: NHU CẦU NÀY ĐÃ KHÔNG XẢY RA
Chương 3: MARA - KẺ SÁT NHÂN
Chương 4: SATAN - ĐỐI THỦ
Chương 5: BUỒN CHÁN VÀ BẠO LỰC
Phần 2: TẠO RA CON ĐƯỜNG
Chương 6: SỢ HÃI VÀ RUN RẨY
Chương 7: VÒNG TRÒN MA QUỶ
Chương 8: MA QUỶ TRÊN ĐƯỜNG ĐI
Chương 9: KHOẢNG KHÔNG TRỐNG RỖNG
Chương 10: TỪ CÓ NHÀ ĐẾN KHÔNG NHÀ
Chương 11: ĐIỀU NÀY LÀ GÌ?
Chương 12: ĐIỀU BÍ ẨN CỦA THẾ GIỚI
Chương 13: TRỞ NÊN Ý THỨC
Chương 14: CƠ THỂ NÀY ĐANG THỞ
Chương 15: HỌC CÁCH CHỜ ĐỢI
Phần 3: SỐNG VỚI MA QUỶ
Chương 16: CUỘC SỐNG CỦA MỘT NGƯỜI BÌNH
THƯỜNG
Chương 17: “ĐỪNG LÀM TỔN THƯƠNG TÔI”
Chương 18: NỖI ĐAU KHỔ CỦA NGƯỜI KHÁC
Chương 19: SỰ HÓA THÂN
Chương 20: VĂN HÓA CỦA HÀNH VI NHẬN THỨC
Chương 21: VƯƠNG QUỐC CỦA MARA
Chương 22: NGHE TIẾNG KHÓC
Chương 23: TÌNH TRẠNG HỖN LOẠN CỦA CÁC KHOẢNG
TRỐNG
Về tác giả
Phần 1: THƯỢNG ĐẾ THỜI NAY
Chương 1: NHỮNG CÂU CHUYỆN HOANG ĐƯỜNG
Đây là cuốn sách dành cho những người giống như tôi, thấy bản thân mình
đang sống giữa những câu chuyện hoang đường khác nhau và có lúc xung
đột nhau - những câu chuyện mang tính sử thi giúp chúng ta cảm nhận về
cuộc sống ngắn ngủi trên trái đất. Một số câu chuyện hoang đường bắt nguồn
từ những khoảng thời gian và không gian xa xưa, trong khi một số câu
chuyện khác lại là sản phẩm của thế giới hiện đại.
Cho dù những câu chuyện hoang đường mà chúng ta kế thừa từ quá khứ phát
xuất từ một tôn giáo theo thuyết nhất thần, chẳng hạn Do Thái giáo hay Cơ
Đốc giáo, hoặc xuất phát từ một truyền thống vô thần, chẳng hạn như Phật
giáo, thì chúng vẫn có cùng quan điểm cho rằng cuộc sống của con người chỉ
là một phần của cái mênh mông rộng lớn vượt quá sức của nó. Cả hai đều tin
vào những thế lực giấu mặt đang hoạt động - cho dù là thế lực của Thượng
Đế hay nghiệp chướng - thì nó cũng đã ném chúng ta vào thế giới này để đối
mặt với một nhiệm vụ khó khăn là cứu rỗi bản thân để đạt đến sự bất diệt.
Những câu chuyện hoang đường của thời hiện đại hết sức gần gũi, khó có
thể nhận ra chúng có phải là những câu chuyện hoang đường hay không.
Ngay cả những người sống trong xã hội cận đại theo Phật giáo hay Cơ Đốc
giáo cũng không coi sự hiểu biết của mình về thế giới là mang tính hoang
đường, và chúng ta cũng không thể coi những câu chuyện hoang đường là cơ
sở để phán đoán xem chúng ta là ai và loại vũ trụ mà chúng ta đang cư trú là
gì. Một câu chuyện hoang đường có ảnh hưởng lớn trong thời hiện đại đã
phổ biến ở phương Tây trong hai thế kỷ qua, dựa trên những hiểu biết mang
tính khoa học về thế giới. Người ta cho rằng đó là nguồn gốc đầy thuyết
phục về vũ trụ và đời sống tri giác, đó là lời giải thích và tiên đoán về sức
mạnh vô cùng của vũ trụ, đó là những kỹ thuật có thể tạo nên ấn tượng sâu
sắc bởi sự hiểu biết của nó về thế giới vật chất, do đó chúng ta không chấp
nhận bất cứ điều gì mang tính hoang đường về nó.
Cho dù những điều chúng ta tin có thể được xác minh bằng kinh nghiệm thì
cũng không thay đổi được bản chất của nó là một câu chuyện hoang đường.
Bất kể thế giới khoa học hiện đại “đúng đắn” đến đâu thì câu chuyện hoang
đường vẫn đóng một vai trò quan trọng trong cuộc sống ngày nay, tương tự,
thế giới quan tiền khoa học cũng đã từng đóng vai trò quan trọng trong nền
văn hóa tiền hiện đại. Vì nó giải thích quá rõ cuộc sống của loài người chỉ là
một phần trong cái mênh mông rộng lớn vượt quá sức của mình. Nó còn
được duy trì bởi những niềm tin. Chúng ta tin rằng vũ trụ đã hoàn toàn nổ
tung cách nay 15 tỷ năm; chúng ta tin rằng loài người tiến hóa bởi sự chọn
lọc ngẫu nhiên của đột biến gien di truyền từ những dạng thức nguyên thủy
sơ khai của cuộc sống; chúng ta tin vào sự tồn tại của điện tử và các hạt vi
lượng. Nhưng liệu chúng ta có thể chứng minh sự thật về bất cứ loại hạt nào
trong số này khi có kẻ không tin tưởng vào chúng không?
Sự hiểu biết của con người luôn bị hạn chế và mang tính cục bộ. Điều duy
nhất thực sự đúng đối với bất cứ ai, cho dù thông minh và được thông tin tốt
cỡ nào, là có thể đòi hỏi được biết một cách hợp lý về tính chắc chắn. Bất cứ
điều gì anh ta biết nhất thiết phải thông qua những công cụ, cảm xúc, lý trí
và trí tuệ của anh ta. Điều không thể đối với anh ta là phải sử dụng một quan
điểm thuận lợi không được sắp đặt sẵn, độc lập với những công cụ và tách
biệt với cơ thể khi anh ta kiểm tra xem kiến thức có sẵn của mình có đáp ứng
thực tế như vậy hay không? Cho dù điều này có thể được giải thích rõ ràng,
thực tế vẫn giữ nguyên bản chất bí ẩn của nó. Còn những vấn đề lớn lao đầy
ý nghĩa như sinh ra và chết đi, làm điều thiện và điều ác..., thì các ngành
khoa học tự nhiên vẫn chưa hé lộ.
Nhưng những câu chuyện hoang đường mà tổ tiên xưa truyền lại vẫn tiếp tục
hiện diện. Chúng ta tiếp tục rút ra từ chúng câu trả lời cho những vấn đề của
mình. Những người công khai theo thuyết vô thần và chủ nghĩa vật chất đều
cảm thấy khó chịu bởi những trích đoạn trong Kinh Thánh. Một người cải
tâm sang đạo Phật nhưng lại cảm nhận được cảm giác thiêng liêng gần gũi
trong một nhà thờ đổ nát ở vùng quê nước Anh hơn là trong những thiền
viện mà bà đã từng đến ở Tây Tạng. Vậy trong những giây phút tuyệt vọng,
ai có thể kêu gọi được sự giúp đỡ của Đấng tối cao mà họ đã từ bỏ?
Là một người phương Tây theo đạo Phật từ 30 năm qua, tôi đã nhận ra
những câu chuyện hoang đường tồn tại song song trong tôi và đang lôi kéo
sự chú ý của tôi. Tôi không theo đạo Cơ Đốc nhưng tôi nhận ra mình đã bị
tiêm nhiễm bởi những câu chuyện hoang đường và những giáo lý Cơ Đốc
của kỷ nguyên hậu Cơ Đốc giáo, môi trường đầy tính nhân bản tự do bao bọc
quanh tôi. Tạm thời, tôi thiên về nghệ thuật hơn là khoa học, nhưng tôi cảm
kích trước một thế giới quan mang tính khoa học đang phát triển, thông tin
về một xã hội mà tôi là một phần tử trong đó. Tôi đã cống hiến cả cuộc đời
mình cho việc dịch những bản văn về Phật giáo, những lời giáo huấn về sự
suy ngẫm và triết lý nhà Phật, đồng thời viết những cuốn sách giải thích về
đạo Phật đương đại. Khi cố gắng tìm hiểu và kết nối những bài giảng cùng
những câu chuyện hoang đường về đức tin của mình, tôi liên tục nhận ra
những tiếng nói khác tương tự như suy nghĩ của tôi.
Trọng tâm hành vi nhận thức của Đức Phật nằm trong sự nhận biết phản trực
giác về cảm nhận của con người theo một hình thức hoàn toàn ngẫu nhiên,
không chắc chắn và nhất thời. Bằng việc cố gắng tập trung sự chú ý và
không lệ thuộc vào cuộc sống khi nó bộc lộ bên trong và chung quanh mình,
thái tử Tất Đạt Đa (theo lịch sử của Đức Phật) đã nhận thấy rằng không có
bản chất cơ bản nào có thể đứng vững, nó phải đứng lùi lại và xem xét sự
tích hợp của màu sắc, hình dáng, âm thanh, cảm giác, suy nghĩ, cảm nhận đã
nảy sinh và biến mất trong từng giai đoạn của ý thức. Sự nhận thức sâu sắc
đáng kinh ngạc này đã làm Ngài hết sức xúc động về những gì Ngài cảm
thấy đó là bản thân mình. Sức thuyết phục mang tính bản năng của một sinh
vật đại diện cho cái “tôi” biệt lập và không thay đổi đã bị sụp đổ. Cuộc sống
đúng là một chuỗi những diễn biến ngẫu nhiên mang tính thăm dò đáng kinh
ngạc, đưa con người vào một chuỗi những nguyên nhân và kết quả phức tạp,
nhưng không có sự khởi đầu rõ rệt và không có sức mạnh thiêng liêng bí ẩn
nào hướng dẫn chúng đi đến một kết thúc được định trước.
Thái tử Tất Đạt Đa thấy rằng việc phát hiện về vô ngã và thực tế vô thần
giúp mình cảm nhận tự do một cách sâu sắc. Ngài được tự do thoát khỏi
những thôi thúc cùng nỗi sợ hãi của một người tự cho mình là quan trọng,
điều từng làm Ngài vướng vào một vòng xoáy vô tận của sự nhàm chán và
khổ não. Ngài muốn nhắc đến sự tự do như là “cõi Niết bàn” - nghĩa đen là
“việc thổi bay” những “đốm lửa” của sự bất bình, liên quan đến sự tồn tại
của con người. Ở một khía cạnh khác, Ngài nói về điều này với nghĩa là “hư
không”: là một không gian mở mà ở đó, ý tưởng trở thành một bản chất cô
lập và bất diệt đã không còn khả năng làm vướng bận một ai. Hư không này
là “nơi ở của một con người vĩ đại”, nơi người ta có thể đối đầu và đáp trả
thế giới bằng một cái nhìn vị tha nhưng đầy cảnh giác.
Một khoảng hư không không tìm thấy ý nghĩa và giá trị chính là sự đối lập
với những gì Đức Phật muốn nói đến dưới dạng một “hư vô”. Đối với Ngài,
sự hiểu biết về hư không đã biến cái vòng ám ảnh về những nỗi sợ hãi và
lòng khao khát thành sự khôn ngoan và chu đáo, nhằm đề cao tính tự do và
sự đáp ứng nhiệt tình bên trong. Thay cho sự thiếu vắng ý nghĩa và giá trị, là
sự thiếu vắng những hạn chế và kìm hãm năng lực của một người nhằm nhận
biết cuộc đời con người có khả năng trở thành cái gì.
Khi hư không được đề cập như một khía cạnh tinh tế của hiện thực hay một
tình trạng mang tính hoang đường của tinh thần, thì nó vẫn có nguy cơ được
tôn sùng quá đáng như một đối tượng tôn giáo có đặc quyền khác.
Nagarjuna, nhà tư tưởng vĩ đại của Ấn Độ thế kỷ II đã nhận thức một cách
sâu sắc về hiểm họa này:
Đức Phật nói hư không
Là đang buông trôi những quan điểm
Những tín đồ đang chìm trong cõi hư không
Là những kẻ bất trị
Hư không phải là điều thiêng liêng có thể tin tưởng được. Đó là một sự gột
rửa: bỏ qua những giáo điều từng trói buộc con người vào lớp vỏ cứng chắc
của bản thân, nhưng dường như lại tồn tại trong trạng thái tách rời khỏi
những rắc rối của cuộc sống. Hành vi gột rửa này dẫn tới việc phá bỏ những
định kiến hà khắc và gây trở ngại cho tinh thần - giống như một rào chắn bắc
ngang con sông - để cho dòng cuộc sống bị kìm nén được tự do chảy đi...
Việc từ bỏ, cho dù tạm thời và không cố ý này sẽ không bôi xóa bạn, mà sẽ
mở ra trước mắt bạn một thế giới phù du và đầy tính ngẫu nhiên để bạn cùng
chia sẻ với những tạo vật đầy lo lắng khác giống bạn. Điều này có thể rất
khủng khiếp vì chắc chắn trong một thế giới như vậy, đến một lúc nào đó,
bạn sẽ chết. Bạn nhận thấy bản thân mình không phải là một thứ ổn định hay
mang bản chất riêng biệt, mà chỉ là một câu chuyện phức tạp, mang tính
thăm dò, đang vội vã đi đến kết luận. Điều này có thể thúc giục bạn gấp rút
quay trở lại với nhận thức, niềm tin cùng những thói quen làm bạn cảm thấy
an toàn. Nhưng khi hành vi trút bỏ đã bắt đầu thì việc bám víu vào những
niềm an ủi sẽ cản trở bạn cảm nhận một cuộc sống an toàn. Để trở về trạng
thái hư không, như Nagarjuna đã khẳng định, bạn phải đối mặt với điều ngẫu
nhiên bất kỳ, không được chọn lọc trong cuộc sống. Thách thức của trạng
thái hư không là lao vào dòng chảy xiết của cuộc sống thay vì lảng vảng
ngập ngừng trên bờ vực ...
“Điều ngẫu nhiên”, là sự diễn dịch ngắn gọn và chính xác về khái niệm
paticcasamuppada của nhà Phật (thường được diễn tả như “sự bắt nguồn phụ
thuộc”). Bất cứ điều gì ngẫu nhiên đều phụ thuộc vào một thứ khác vì sự tồn
tại của mình. Chúng ta tạo nên những kế hoạch “ngẫu nhiên” vì cuộc sống
đầy những điều bất ngờ, và bất kể sự chuẩn bị của chúng ta ra sao thì mọi
thứ cũng thường không xảy ra như đã định. Tính phức tạp của các phương
thức sống làm con người khó có thể nhìn thấy trước một hệ thống đã cho (có
thể là một người hay một vật) sẽ cư xử như thế nào trong giai đoạn kế tiếp,
hay bị bỏ mặc một mình như thế nào trong tháng hoặc năm kế tiếp. Điều
ngẫu nhiên bộc lộ tình trạng tự do hỗn loạn ngay trung tâm của những sự
việc được sắp xếp theo thuyết nhân quả. Tuy nhiên, muốn nhờ đến bàn tay
của Thượng đế, nghiệp chướng hay số mệnh để truyền một mệnh lệnh bí mật
cho điều ngẫu nhiên, đòi hỏi con người phải có thiện chí để chấp nhận khả
năng không thể loại trừ và không thể đoán trước được, thay vì đạt tới trạng
thái thoải mái, dễ chịu của lý thuyết suông.
Trái với “điều ngẫu nhiên” là “tính cần thiết”. Bất kể nhận thức về cuộc đời
tầm thường và chóng tàn như thế nào thì tôi cũng không thể rũ bỏ sự thuyết
phục mang tính trực giác từ trong tâm hồn, sự tồn tại của tôi là cần thiết
trong việc hoạch định mọi thứ. Bằng việc tập trung sự chú ý cao độ vào bản
chất ngẫu nhiên của cảm nhận, việc thực hành suy ngẫm của đạo Phật sẽ
thách thức cảm giác bản năng của chúng ta, theo cách nói về Satan của
Milton là “Tự mình sinh ra, tự mình nổi lên/Bằng sức mạnh ngày càng lớn
của riêng mình”. Sự nhận thức sâu sắc về trạng thái hư vô của bản thân sẽ
đạt được không chỉ qua việc loại bỏ bản thân mà còn qua việc tìm hiểu xem
nó là ngẫu nhiên hay cần thiết.
Khi bản tính ngoan cường, cứng cỏi của các bản chất và sự vật thiết yếu bị
phá hủy trong bối cảnh của trạng thái hư vô thì một thế giới ngẫu nhiên sẽ
mở ra những điều mơ hồ và hay thay đổi, mê hoặc và khủng khiếp. Không
những thế giới này bộc lộ trước chúng ta vẻ uy nghi, khôn khéo và phức tạp
một cách đáng sợ, mà một ngày nào đó, nó sẽ nuốt chửng chúng ta trong làn
ranh hỗn độn của nó cùng với tất cả những thứ khác mà chúng ta yêu thích.
Vẻ đẹp sâu sắc của sự sáng tạo không thể tách khỏi tính chất hủy diệt tàn bạo
của nó. Làm thế nào để sống trong một thế giới hỗn độn với sự khôn ngoan,
khoan dung, chân thành, chu đáo và không có bạo lực chính là những gì mà
các vị thánh cùng những triết gia đã cố gắng làm sáng tỏ trong nhiều thế kỷ
qua. Đó cũng chính là những gì mà Phật giáo đang cố gắng đạt được thay vì
thừa nhận bản chất bất tử hay siêu việt, nằm ngoài sự thăng trầm của thế
giới. Đức Phật luôn cho rằng sự cứu rỗi nằm trong hành vi tháo bỏ những ý
nghĩ kỳ quặc và thay vào đó là nắm lấy cuộc sống trần tục muốn phá hủy
bạn.
Cuốn sách này là sự suy ngẫm về một số vấn đề lâu đời. Trong đó nhiều nhất
là giải thích về những câu chuyện hoang đường, những học thuyết, triết lý và
thực hành của nhà Phật. Tuy nhiên khi người nào đó thấy bản thân mình
đang cư trú tại kẽ hở giữa những nền văn hóa và truyền thống, thì những ý
tưởng về đạo Phật sẽ được đặt gần nhau và được đan xen vào nhau bằng
những chất liệu lấy từ những nguồn khác như Kinh Thánh, thơ của
Baudelaire, Roland Barthes và thuyết sinh học tiến hóa. Mặc dù tôi trích dẫn
những bản kinh theo thuyết nhất thần nhưng tôi không tin vào Thượng đế
nhiều hơn việc tôi tin vào Hamlet. Điều này không có nghĩa là Thượng đế
cũng như Hamlet đều không có gì đáng nói. Những trang sách tập trung vào
những nhân vật mang tính hoang đường và lịch sử, bắt nguồn từ những
truyền thống, phong tục khác nhau. Con đường tôi đi men theo kẽ hở giữa
những tôn giáo cùng những câu chuyện hoang đường lâu đời giúp tôi cảm
nhận về cuộc sống. Càng tiến xa hơn, tôi càng nghi ngờ con đường này
không có gì ngoài những kẽ hở hỗn độn của bản thân chúng.
Chương 2: NHU CẦU NÀY ĐÃ KHÔNG XẢY RA
Mẹ đã tình cờ xóa bỏ lòng tin về sự tồn tại của tôi là cần thiết khi tôi 16 tuổi.
Đó là vào ngày lễ Giáng Sinh.
Bà và cô em gái đang xem lướt qua những tấm ảnh nằm trên bàn bếp. Đó là
những bức ảnh chụp một người đàn ông mặc quân phục - mắt nheo lại dưới
ánh nắng mặt trời sa mạc, miệng ngậm cán tẩu. Mẹ nói: “Nếu tất cả mọi thứ
xảy ra khác đi thì ông ta đã có thể là cha con”. Tôi nghĩ: “Nếu ông ấy là cha
tôi thì tôi có còn là tôi không?”.
Cái nhìn thoáng qua của tuổi mới lớn về điều ngẫu nhiên đã bất ngờ ám ảnh
tôi. Cho dù sự thuyết phục theo trực giác nói rằng sự hiện diện của tôi trong
thế giới này có chút gì đó cần thiết, thì khả năng không chắc chắn và đáng lo
ngại mà tôi không cần đến vẫn đang gặm nhắm. Bỏ qua sự chọn lựa của mẹ
tôi đối với những người theo đuổi bà, có phải thực sự còn có vô số tinh trùng
của một người cha khác được cấy vào tử cung của mẹ tôi không? Có phải
đứa trẻ được sinh ra từ sự pha trộn các nhiễm sắc thể như vậy là tôi không?
Hoặc nếu có một loại tinh trùng tương tự đã tìm ra nơi trú ẩn trong chu kỳ
rụng trứng kế tiếp của mẹ tôi, có phải đứa bé đó là tôi không?
Hoặc nếu khẩu súng của cảnh sát đã bắn chết Erwin von Scheubner - Richter
vào ngày 9 tháng 11 năm 1923 lệch góc sang phải một chút thì có phải nó đã
bắn trúng Adolf Hitler không? Nếu Hitler chết, mẹ tôi và người đàn ông mà
bà dự định kết hôn có phải đã không gặp nhau ở hoang mạc Bắc Phi không?
Giống như vậy, tấm ảnh tương tự cũng đã được góp nhặt bằng những cách
thức không thể đoán trước được trong vô số hoàn cảnh, lựa chọn và sự việc,
dẫn dắt bà đến gặp người cha thực sự của tôi vài năm sau đó.
Là một trong số 6 tỷ con người đang lo lắng, tôi nhấn mạnh sự không thể khi
dành ra hơn 27 năm trên hành tinh này để lật đổ niềm tin vững chắc trong
thâm tâm cho rằng tôi là một linh hồn độc lập và vĩnh cửu. Tuy nhiên, khi
nào tôi còn có thể nhớ được, điều này cũng tương tự như tôi đã nhìn một
cách thành thật và chăm chú vào thế giới của mọi vật và mọi người, tránh xa
cái tổ chim đơn độc được che giấu bên trong xác thịt này. Con người mà câu
chuyện của ông ta bắt đầu bằng việc nhớ lại khi ngồi trong lòng một người
phụ nữ, nép mình vào những nếp áo choàng lông thú của bà, chăm chú nhìn
qua cửa sổ máy bay nhìn xuống những ngôi nhà cùng những chiếc xe hơi
nhỏ xíu của thành phố Toronto, dường như đã trở thành một con người thực
sự mà giờ đây đang viết những dòng chữ này.
Bằng cách thức trừu tượng và không hiệu quả, tôi biết điều này không thể là
sự thực. Vì tôi đã lớn lên và thay đổi. Tôi không còn nhận định được đó là
thể xác 3 tuổi hay trí óc 30 tuổi của mình. Về mặt thể chất, cảm xúc và tinh
thần, tôi đã trở thành một người khác. Nhưng tôi không thể chịu được cảm
giác mình vẫn là người từng ngọ nguậy những ngón tay mũm mĩm và bộc lộ
niềm vui thích trẻ thơ. Ngay khi tôi hướng sự chú ý của mình vào con người
thực sự này thì anh ta lại trườn người đi. Anh ta biến mất.
Tôi không chọn có mặt ở đây, nhưng giờ đây tôi không thể chấp nhận được ý
nghĩ mình không tồn tại. Tuy có một cảm nhận nào đó về tính cần thiết trong
sự hiện hữu của mình, nhưng điều chắc chắn duy nhất mà tôi phải đối mặt là
con người có vẻ cần thiết đó sẽ bị tàn lụi đi. Trái tim này sẽ ngừng bơm máu,
hai lá phổi này sẽ ngừng việc hút dẫn khí, các tế bào thần kinh này sẽ ngừng
kích thích trí não tôi. Thể xác tôi sẽ thối rữa hoặc bị ngọn lửa thiêu rụi và
theo thời gian, tôi chỉ còn sống lay lất như những sợi chỉ mỏng manh, như
một ký ức trong trí nhớ nhạt nhòa của những người đã có dịp gặp tôi. Và khi
những sợi chỉ này biến mất, chỉ còn những tấm ảnh cùng những dấu vết mà
tôi để lại trên báo chí và đĩa vi tính. Rồi chẳng bao lâu, những dấu vết này
cũng sẽ trở thành cát bụi.
Tôi né tránh những ý nghĩ đó bằng việc tập trung hoàn thành những công
việc bận bịu trong ngày. Hay nói cách khác, sự thôi thúc bản năng để tồn tại
đã giúp tôi tập trung vào công việc này. Vì ngay cả khi ngừng suy ngẫm về
tính ngẫu nhiên và nhất thời của sự tồn tại, tôi thấy bản thân mình liên tục bị
giằng xé bởi những ý nghĩ và cảm giác khác đang đòi được chú ý. Tôi không
muốn thoát khỏi sự suy tư sâu lắng nhưng tôi thấy khó có thể ngăn được sự
thôi thúc đó đi đến một nơi nào khác. Những lúc như vậy, toàn bộ cơ thể tôi
là đối tượng của những sự thôi thúc mà tôi chỉ vừa vặn kiểm soát được. Bất
chấp điều đó, tôi đã rút khỏi sự nhận thức về tính thay đổi liên tục của cuộc
sống và trở về với lớp vỏ của mối bận tâm: lo nghĩ về bản thân mình.
Khi Dante bước vào tầng thứ chín và là tầng cuối cùng của địa ngục, ông
thấy mình đứng bên lề của một tảng băng khổng lồ. Ông ta tránh một cơn gió
tối tăm, lạnh lẽo và phát hiện ra Satan đã nhận chìm lồng ngực mình vào
tảng băng, vỗ mạnh sáu chiếc cánh giống như cánh dơi. Trái với những tầng
địa ngục bắt lửa bên trên, nơi những linh hồn phải chịu sự tra khảo tàn bạo
dựa trên tội lỗi, thì ở đây “vua của tất cả những tai họa” đã bị đông cứng lại
và bị sập bẫy. Tương tự, nỗi lo sợ không ngừng cùng cảm giác khao khát
trong tôi như được điều khiển bởi một bản chất tàn bạo dường như đã bị
đông cứng lại. Đây là nơi sự chối bỏ điều ngẫu nhiên bất ngờ của cuộc sống
và sự khẳng định tính cần thiết của riêng tôi được cảm nhận mạnh mẽ nhất.
Sự tấn công bất ngờ của Dante vào địa ngục cho thấy càng đến gần trái tim
của người bị mê muội thì bạn càng bị tước đi ánh sáng và sự nóng ấm. Bạn
cảm thấy xa lạ và tuyệt vọng. Địa ngục là một cách nói ẩn dụ về cảnh hoang
tàn hiu quạnh ấy.
Nhưng ma quỷ chỉ là một cách tượng trưng, miêu tả một phản ứng có tính
cưỡng bức đối với thế giới ngẫu nhiên để đi vào nơi chúng ta bị ném vào từ
lúc mới sinh. Có điều gì đó thật mãnh liệt về bản thân thế giới ngẫu nhiên.
Đây là nơi những điều chúng ta không muốn xảy ra đã xảy ra. Tiếng bánh xe
nghiến xào xạo trên băng tuyết và quẹo ra khỏi con đường để chui vào
những lùm cây thay vì đi tới điểm đến của chúng. Lũ lụt, bom đạn và động
đất đã nhanh chóng phá hủy những gì do lao động tạo ra. Lúc tôi cảm thấy bị
bao vây mọi phía: bên trong thì thôi thúc làm thế nào để tồn tại, bên ngoài thì
bị khống chế, lấn át bởi thảm kịch của một thế giới đau khổ. Cho dù tôi đã
lựa chọn làm điều tốt một cách chân thành và nhiệt tình thì tôi vẫn tiếp tục
làm điều ngược lại. Tôi nói về những giá trị được kiểm soát chặt chẽ nhất
nhưng chỉ thấy bản thân mình đang ngày càng phản bội lại chúng. Tôi
nguyện cống hiến cuộc đời mình cho sự phồn vinh, hạnh phúc của người
khác nhưng vẫn cương quyết giữ lại lời cam kết về sự phồn vinh, hạnh phúc
của riêng mình.
Shantideva, tín đồ Phật giáo Ấn Độ thế kỷ VIII đã viết: “Tôi ao ước thoát
khỏi sự đau đớn nhưng vẫn phải xông vào nó; tôi khao khát hạnh phúc
nhưng phải điên cuồng tiêu diệt nó như một kẻ thù”. Hàng ngàn năm sau,
Pascal đã nhận xét: “Chúng ta khao khát chân lý nhưng chỉ thấy bản thân
mình không có gì ngoài những điều không chắc chắn. Chúng ta tìm kiếm
hạnh phúc nhưng chỉ thấy đau khổ và chết chóc”. Những mâu thuẫn như vậy
còn nhiều hơn những sai sót đạo lý thông thường có thể sửa chữa được bằng
nỗi lo của sự trừng phạt hay sự bộc phát nhất thời tính ngay thẳng. Dường
như nó xuất hiện để thêu dệt tấm vải cho chính sự tồn tại.
Thậm chí khi một giọng nói kẻ cả điềm tĩnh nói tôi đang mâu thuẫn với
chính mình bằng việc thỏa mãn một sự cưỡng bức, vậy tại sao tôi lại thấy
quá khó để từ bỏ nó? Điều này giống như có một sức mạnh to lớn đang dẫn
dắt tôi hướng đến một số mệnh lệnh không thể thoái thác. Phần nào trong tôi
bị mê hoặc, như đang mộng du, tuân theo một sức hút đầy đam mê dẫn tới
một cảm nhận mà người ta không thể từ bỏ. Tôi biết nguyên nhân tại sao tôi
không thể làm những gì mình có thể làm nhưng dường như không thể cưỡng
lại được. Cuộc đấu tranh để chống lại sự mê hoặc quyến rũ cũng tương tự
như cuộc đấu tranh chống lại sức lôi kéo của thủy triều. Và những điều khao
khát này là những chiếc bóng mờ nhạt của những gì sâu xa và tăm tối hơn,
cuốn đi sự hiện hữu của chúng ta, nó được gọi là ma quỷ...
Chương 3: MARA - KẺ SÁT NHÂN
Trong các câu chuyện thần thoại, ma quỷ là những kẻ bạo ngược, thích thú
với việc gây đau khổ cho nạn nhân của mình. Sức mạnh bền bỉ của chúng đã
làm cho những người mê muội cảm nhận được tình hình hiện tại và sự tê liệt
tâm lý của mình. Khi bị ma quỷ bắt giữ, người ta cảm thấy ngột ngạt khó
thở, bị đè nén và mệt nhọc như một người gắng sức để thoát khỏi những gì
đang gài bẫy họ. Ma quỷ là cách nói về một điều gì đó ngăn cản đường đi
của con người trong cuộc đời, làm cho những lời cầu xin bị mất tác dụng,
người ta cảm thấy bị cản trở, bị bao vây và bế tắc. Trong tiếng Hebrew,
Satan có nghĩa là “kẻ địch”, còn tiếng Hy Lạp diabolos có nghĩa là “một
người đã ném một thứ gì đó chắn ngang đường”. Ở Ấn Độ, Đức Phật gọi ma
quỷ là Mara, nghĩa là “kẻ sát nhân”.
Trong bài diễn thuyết đầu tiên có tựa đề “Cuộc đấu tranh”, thái tử Gotama
(tức Đức Phật) nhớ lại: “Tôi ngồi bên bờ sông Neranjara, bắt đầu một trận
chiến miệt mài, thực hành suy ngẫm bằng tất cả sức mạnh trong nỗ lực tìm
kiếm sự tự do. Rồi kẻ sát nhân Mara đến cạnh tôi và nói những câu đầy vẻ
thiện cảm: “Ngài trông xanh xao, yếu ớt quá!”, nó tiếp: “Ngài nên chết đi.
Điều đó có lẽ còn tốt hơn sống rất nhiều. Ngài có thể làm thêm nhiều điều tốt
bằng một cuộc sống thiêng liêng”.
Xem ra ma quỷ đã chạm đến những vấn đề quan tâm nhất trong tâm hồn Đức
Phật. Từ cái nhìn đầu tiên, những gì nó nói đều có vẻ hợp lý. Mara đã làm
nản lòng cuộc sống khổ hạnh của Đức Phật và ca tụng một cuộc sống cống
hiến cho những điều tốt trên thế gian. Nó không khích lệ thái tử Gotama làm
bất cứ điều gì tội lỗi. Mục đích của nó là làm suy yếu lòng quyết tâm được tự
do thoát khỏi sự chỉ đạo mang tính cưỡng bức, nhằm gài bẫy Ngài vướng
vào vòng thống khổ.
Trong khi nói chuyện với thái tử Gotama, Mara “đứng ngay bên cạnh Đức
Phật”. Con quỷ bóng gió đưa đẩy bản thân mình bằng cách thức như vậy, cứ
như nó đã trở thành một phần trong suy nghĩ của Ngài. Nhưng Đức Phật đã
nhận ra điều đó và nói:
Ta đã nhìn thấy tất cả những chiếc bẫy của ngươi ở quanh ta Mara ạ, nhưng
ta vẫn tiếp tục đấu tranh. Cho dù cả thế giới không thể đánh bại binh lính của
ngươi thì ta cũng sẽ phá hủy nó bằng sức mạnh của sự khôn ngoan như thể
nó là một chiếc bình không được nung bị đập vỡ bằng một hòn đá.
Để thể hiện uy lực của quỷ dữ, người ta đã miêu tả Mara như một vị thần
chiến tranh cưỡi voi đang chỉ huy đội quân đông vô kể. Đức Phật đã không
coi “sức mạnh của Mara mạnh mẽ hơn bất cứ sức mạnh nào không thể khuất
phục được”. Ngài gọi binh lính dưới sự chỉ huy của Mara là lòng ham muốn
khoái lạc, sự bất mãn, đói khát, lòng tham, tính thờ ơ, lo sợ, nghi ngờ, tính
liên tục, khao khát chiếm đoạt, kiêu căng, danh dự và tiếng tăm, tán dương
người này trong khi gièm pha, coi thường người khác.
Việc gắn bó chặt chẽ với lòng khao khát hoặc nỗi sợ hãi đã siết chặt điểm
nút kết nối con người với nó, và do đó có thể gây ảnh hưởng đến họ. Chỉ khi
nào Đức Phật biết được những ước muốn và những sợ hãi đang đe dọa Ngài
chẳng là gì ngoài trạng thái phù du của tâm hồn và thể xác, chúng mới mất
khả năng thôi miên Ngài. Thay vì xem chúng như sức mạnh của một kẻ địch
có ý định hủy diệt mình t...
 





